vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Long H. Về con chung: Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 20/7/1997, đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18 – 02 – 2022
V/v tranh chấp về hôn nhân
và gia đình ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Minh.

Ông Lê Văn Dài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 18 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1970.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Long H, sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ cư trú: Số X, ấp H, xã T, huyện TB, tỉnh ĐT.

Chị Lê Thị H có mặt, anh Nguyễn Long H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Long H kết hôn năm 1993 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện TB, tỉnh ĐT vào ngày 17/3/1993. Hôn nhân giữa chị H và anh H được xây dựng trên cơ sở mai mối và kết hôn.

Thời gian đầu vợ cHng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ cHng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong các quyết định về gia đình, công việc và tình cảm. Hiện nay anh H đã có người phụ nữ khác bên ngoài, chị H đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Vợ cHng sống ly thân từ năm 2016 đến nay, khoảng thời gian sống ly thân vợ cHng có tìm cách hàn gắn tình cảm với nhau nhưng không thành. Hiện nay, tình cảm vợ cHng không còn và cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ cHng được.

Nay chị Lê Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Long H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa chị H và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 20/7/1997 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Long H trình bày:

Về hôn nhân: Anh H thống nhất, anh H và chị H kết hôn năm 1993 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện TB, tỉnh ĐT vào ngày 17/3/1993. Hôn nhân giữa anh H và chị H được xây dựng trên cơ sở mai mối và kết hôn.

Thời gian đầu vợ cHng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ cHng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong các quyết định về gia đình, công việc và tình cảm. Vợ cHng sống ly thân từ năm 2016 đến nay, khoảng thời gian sống ly thân vợ cHng có tìm cách hàn gắn tình cảm với nhau nhưng không thành. Hiện nay, tình cảm vợ cHng giữa anh H và chị H vẫn còn, anh H có thể hàn gắn tình cảm vợ cHng được với chị H.

Nay anh Nguyễn Long H không thống nhất ly hôn với chị Lê Thị H.

Về con chung: Anh H thống nhất, trong thời gian chung sống giữa anh H và chị H có 01 con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 20/7/1997 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ trong H sơ vụ án gồm:

- Đơn khởi kiện ngày 13/12/2021; Giấy chứng minh nhân và Sổ hộ khẩu của chị Lê Thị H (Bản photo); Trích lục kết hôn (Bản sao); Giấy khai sinh của Nguyễn Thị Huyền T (Bản sao); Xác nhận nơi cư trú người bị kiện (Bản chính); Bản tự khai của chị Lê Thị H ngày 27/12/2021 (Bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong H sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H và các tài liệu, chứng cứ có trong H sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Long H cư trú tại Số 98, ấp H, xã T, huyện TB, tỉnh ĐT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Long H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Long H.

Xét thấy, trong quá trình chung sống chị H và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, không hòa hợp trong sinh hoạt, vợ cHng thường xuyên cãi nhau, anh H không chăm lo cho gia đình. Hiện nay anh H đã có người phụ nữ khác bên ngoài, chị H đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được. Chị H và anh H sống ly thân từ năm 2016 đến nay, khoảng thời gian ly thân không hàn gắn tình cảm với nhau được. Điều này chứng minh, hôn nhân giữa chị H và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Lê Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Long H là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Chị H và anh H thống nhất, con chung tên Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 20/7/1997 đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H và anh H đều xác định là tự thỏa thuận, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị H và anh H đều xác định là tự thỏa thuận, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét ý kiến của anh Nguyễn Long H là anh H không thống nhất ly hôn với chị Lê Thị H. Xét thấy, như phần phân tích nêu trên, ý kiến của anh Nguyễn Long H là không có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Long H.

- Về con chung: Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 20/7/1997, đã thành niên và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Tự thỏa thuận, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001295 ngày 13/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Lê Thị H đã nộp xong tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ