vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Lê Quang L về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Lê Quang L. Về con chung: Giao cháu Lê Hoàng C, sinh ngày 31/5/2016 cho b Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông Lê Quang L cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị H và ông Lê Quang H về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Lê Quang L về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-01-2022
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Ông Đỗ Minh Tùng.

- Thư ký phiên toà: B Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Trần Ho ng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở To án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân v gia đình thụ lý số 336/2021/TLST-HNGĐ ng y 13 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/01/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 8, khu phố 2, phường T, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Quang L, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ 8, khu phố 2, phường T, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 23/9/2021 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Bà Lê Thị H và ông Lê Quang L kết hôn với nhau từ năm 1999, có tổ chức cưới hỏi v có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chứ Kbô, huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk. Hôn nhân l ho n to n tự nguyện.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2000 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn l do ông L thường xuyên uống rượu, hành hung bà H, bất đồng quan điểm sống. Tất cả chi phí sinh hoạt trong gia đình v chi phí học h nh cho các con đều do b H tự trang trải, không cùng với b H chăm sóc các con v phụ b H lo chi phí sinh hoạt gia đình, chi phí học h nh của các con. Nay mâu thuẫn hôn nhân đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H xin được ly hôn với ông Lê Quang L.

Về con chung: Bà H và ông L có 02 con chung là cháu Lê Hoàng C, sinh ngày 31/5/2016 và cháu Lê Thị A, sinh ng y 14/01/1999. Hiện tại hai cháu và Anh đang chung sống với bà H. Sau khi ly hôn bà H xin được trực tiếp nuôi cháu . Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi cháu . Riêng cháu Lê Thị A, sinh ngày 14/01/1999 trên 18 tuổi nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về t i sản chung v nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Lê Quang L trình bày:

Ông Lê Quang L thống nhất với lời trình b y của b H về thời điểm đăng ký kết hôn, con chung, t i sản chung v nợ chung

Về hôn nhân: Ông L và bà H bắt đầu chung sống từ năm 1998, có tổ chức đám cưới v đăng ký kết hôn v o năm 2000 tại ủy ban nhân dân xã Chư Kbô, huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện.

Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2000 bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Ông L đi l m công nhân, bà H thì l m công việc môi giới bất động sản đồng thời buôn bán các mặt h ng thủy sản để trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình v chi phí học hành cho các con. Vợ chồng không có thời gian gần gũi chăm sóc gia đình. Vợ chồng đã ly thân khoảng 04 tháng nay. Ông L và bà H đã ngồi lại để giải quyết các mâu thuẩn giữa hai vợ chồng rất nhiều lần nhưng vẫn không hòa giải h n gắn tình cảm vợ chồng được. Thu nhập lương h ng tháng của ông L dùng để tích lũy để sau n y lo đám cưới cho các con nên không có đưa thu nhập lương cho vợ. Năm 2020 H đã từng nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn. Sau đó bà H đã rút đơn để h n gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên cho đến nay vẫn không thể h n gắn tình cảm vợ chồng để cùng chăm sóc cho các con. Ông L đã từng kết hôn nhưng đã ly hôn trước khi kết hôn với b H. Hiện ông L và bà H đã không còn chung sống với nhau từ năm 2020. Ông L bà H không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Dù tình cảm vợ chồng không thể h n gắn được nữa nhưng ông L không đồng ý ly hôn với b H, ông L không muốn các con bị ảnh hưởng tâm lý. Ông L có đưa ra đề nghị với b H l hiện tại vợ chồng không còn tình cảm nữa thì cứ sống chung nh , mỗi người ngủ một phòng, không ai chạm đến không gian riêng của ai nhưng cả hai sẽ cùng nhau chăm sóc các con nhưng b H không đồng ý.

Quá trình chung sống ông L và bà H phát sinh nhiều mâu thuẩn, bà H làm công việc bán các mặt h ng hải sản và ông L có lời qua tiếng lại với khách h ng, nhưng lý do lời qua tiếng lại với khách l do khách không mang khẩu trang.

Về con chung: Có 02 con chung l cháu Lê Hoàng C, sinh ngày 31/5/2016 và cháu Lê Thị A, sinh ng y 14/01/1999. Hiện tại cháu đang chung sống với bà H. Trường hợp ly hôn thì ông L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu , không yêu cầu b H cấp dưỡng nuôi cháu . Nêu trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của b H, Tòa án giao cháu cho bà H trực tiếp nuôi thì ông L đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Cháu Lê Thị A, sinh ngày 14/01/1999 trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về t i sản chung v nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà Lê Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không giao nộp thêm chứng cứ cho Tòa án. Bà H và ông L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

ki n phát bi u của vị đại diện Viện Ki m sát nhân dân thị xã B n Cát:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ v các t i liệu chứng cứ v lời trình b y của đương sự cung cấp Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát có ý kiến như sau: Ngày 01/11/1999, bà Lê Thị H và ông Lê Quang L đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Chứ Kbô, huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk, hôn nhân ho n to n tự nguyện. Quá trình chung sống b H và ông L có 02 con chung gồm cháu Lê Thị A, sinh ngày 14/01/1999 và cháu Lê Hoàng C, sinh ng y 31/5/2016. Từ năm 1999 đến 2000, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2000 đến nay, giữa b H và ông L phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, ông L thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, mọi sinh hoạt trong gia đình đều do b H lo, ông L nhiều lần đánh đập b H. Từ năm 2020, vợ chồng sống ly thân, nhiều lần bà H muốn h n gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L vẫn không thay đổi. B H nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn với ông L. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân v gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của b H đối với ông L.

Về con chung: Cháu Lê Hoàng C, sinh ng y 31/5/2016, hiện tại cháu đang ở với mẹ. Do đó để không l m thay đổi tâm sinh lý của cháu nên giao con cho bà H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H có đơn yêu cầu không cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về t i sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các t i liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ v o kết quả tranh luận tại phiên to v ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Lê Thị H khởi kiện bị đơn ông Lê Quang L về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Bị đơn ông Lê Quang L có địa chỉ cư trú tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Lê Thị H v bị đơn ông Lê Quang L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Lê Thị H và ông Lê Quang L kết hôn với nhau từ năm 1999, có tổ chức cưới hỏi v có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chư Kbô, huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk, l hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc từ năm 1999 đến năm 2000 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L thường xuyên uống rượu đánh đập vợ con, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không cùng với b H chăm sóc các con. Do đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên bà H xin được ly hôn với ông Lê Quang L. Ông L không có trách nhiệm với vợ con. Ông L bà H không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Bị đơn ông Lê Quang L không đồng ý lý hôn nhưng ông L cũng thừa nhận tình nghĩa vợ chồng không còn, vợ chồng ly thân hơn 4 tháng, vợ chồng h n gắn nhưng không được nhưng ông không đồng ý ly hôn vì sợ ảnh hưởng tâm lý các con.

ét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn hôn nhân đã xảy ra trong một thời gian d i nhưng hai bên vẫn không h n gắn được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lê Thị H được ly hôn với ông Lê Quang L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân v gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Hoàng C, sinh ngày 31/5/2016 và cháu Lê Thị A, sinh ngày 14/01/1999. Xét cháu còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ v hiện đang sinh sống ổn định với b H Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn giao cháu Lê Hoàng C cho bà Lê Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Bà Lê Thị H hiện nay có công việc v thu nhập ổn định, trước giờ b H vẫn l người chăm sóc lo lắng chi phí sinh hoạt gia đình v chi phí học h nh của các con, bà H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung, b H cũng không yêu cầu ông L cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Riêng cháu Lê Thị A đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về t i sản chung v nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân v gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 v 84 của Luật Hôn nhân v gia đình;

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 v Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Lê Quang L về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Lê Quang L.

Về con chung: Giao cháu Lê Hoàng C, sinh ngày 31/5/2016 cho b Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông Lê Quang L cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung.

Vì lợi ích hợp pháp của con chưa th nh niên, To án có thể quyết định thay đổi người nuôi con v việc cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.

Về t i sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Nguyên đơn b Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng tiền án phí hôn nhân v gia đình sơ thẩm v được khấu trừ v o số tiền tạm ứng án phí đã nộp l 300.000 đồng ba trăm nghìn đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0004251 ngày 01/10/2021 của Chi cục Thi h nh án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 mười lăm ng y kể từ ng y nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của Pháp luật./.

Cỡ chữ