vanban.org

Bản án 09/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban t…

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Chị Trương Thị P được ly hôn anh Bàn Văn V. 2- Về con chung xử: Giao cháu Bàn Văn T, sinh ngày 27-6-2017 cho anh Bàn Văn V trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Trương Thị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)/tháng, kể từ tháng 02-2022 đến khi cháu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị Phòng xin ly hôn anh Bàn Văn Viên"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban t…
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chị P; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ơ
Bản án số: 09/2022/HNGĐ- ST
Ngày 20-01-2022
V/v ly hôn và nuôi
con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trương Xuân Vũ

- Bà Vũ Thị Hồng

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh- Thư ký Toà án nhân dân huyện L.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Phương- Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 219/2021/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2021 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 30-12-2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10-01-2022 giữa;

Nguyên đơn: Chị Trương Thị P, sinh năm 1999- Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Y

Bị đơn: Anh Bàn Văn V, sinh năm 1994- Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Y

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 30-11-2021 nguyên đơn chị Trương Thị P trình bày: Chị P và anh Bàn Văn V có quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015. Chỉ cưới hỏi theo phong tục tập quán. Đến ngày 18-5-2018 chị P và anh V đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L. Anh chị chung sống hòa thuận đến cuối năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh V hay chửi mắng chị P. Chị P có khuyên bảo nhưng anh V không thay đổi. Anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2019, không quan tâm đến nhau nữa. Nay chị P xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về con chung: Chị P và anh V có một con chung tên là Bàn Văn T, sinh ngày 27-6-2017. Chị P nhất trí để anh V nuôi cháu T, chị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T 500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh V không có tài sản chung, không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành giải quyết vụ án, nhưng anh V vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tại phiên tòa hôm nay phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật Thẩm phán, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đúng thành phần thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 xử: Chị P được ly hôn anh V; giao cháu T cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, chị P phải cấp dưỡng nuôi con; chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án huyện L là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn.

Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

Về tình cảm: Chị P và anh Bàn Văn V có quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015. Đến ngày 18-5-2018 chị P và anh V đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L. Đây là hôn nhân hợp pháp. Chị P và anh V chung sống hòa thuận đến cuối năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, hay bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị P và anh V đã sống ly thân từ cuối năm 2019, không quan tâm đến nhau nữa. Chị P xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V. Tại phiên tòa chị P vắng mặt, nhưng chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh V. Về phía anh V trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần vắng mặt không có lý do. Mặc dù anh V biết việc chị P xin ly hôn, nhưng anh V không có ý kiến gì. Tại biên bản ghi lời khai ngày 23-12-2021 của ông Bàn Văn B là bố đẻ anh Bàn Văn V, địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Y và biên bản xác minh ngày 24-12-2021 ở Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Y cũng xác nhận: Quá trình chung sống chị P và anh V sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị P đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ cuối năm 2019. Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn giữa chị P và anh V là trầm trọng. đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ được chấp nhận. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chị P được ly hôn anh V.

Về con chung: Chị P và anh V có một con chung tên là Bàn Văn T, sinh ngày 27-6-2017. Chị P yêu cầu anh V là người trực tiếp nuôi cháu T, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T 500.000 đồng/tháng. Tại phiên tòa chị P vắng mặt nhưng chị vẫn giữ nguyên yêu cầu này. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh V vắng mặt, mặc dù anh biết việc chị P yêu cầu anh V trực tiếp nuôi cháu T, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T 500.000 đồng/tháng, nhưng anh V không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu T sống cùng anh V từ nhỏ, hiện nay cháu T đang ở cùng anh V và gia đình bố mẹ anh V. Để đảm bảo ổn định về tâm lý và sự phát triển bình thường của cháu T, nên để cháu T cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình: “Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Chị P là người không trực tiếp nuôi con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Qua xác minh tại Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Y nơi chị P và anh V cư trú sinh sống xác nhận: Chị P làm nghề tự do thu nhập khoảng 3.000.000 đồng/tháng. Do đó chị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T 500.000 đồng/tháng phù hợp với pháp luật, phù hợp với thực tế được chấp nhận. Áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử: Giao cháu T cho anh Viển trực tiếp nuôi dưỡng, chị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T 500.000 đồng/tháng

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Chị Trương Thị P được ly hôn anh Bàn Văn V.

2- Về con chung xử: Giao cháu Bàn Văn T, sinh ngày 27-6-2017 cho anh Bàn Văn V trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Trương Thị P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)/tháng, kể từ tháng 02-2022 đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

3- Về án phí: Chị Trương Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị P đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số: AA/2021/0002094 ngày 24-11-2021 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện L. Chị P còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

4- Quyền kháng cáo: Chị Trương Thị P, anh Bàn Văn V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ