- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho Trần Thị B được ly hôn với Châu Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-01-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Hoa Lư.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phát Triển
Ông Nguyễn Chí Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 30 tháng 01 năm 2023 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2022/TLST-HNGĐ, ngày 17/10/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 13/01/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị B, sinh năm 1985 (có mặt).
Địa chỉ: 108/5, ấp Tân An, xã Ph H, huyện L V, tỉnh Đ T
2. Bị đơn: Châu Văn T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: 108/5, ấp Tân An, xã Ph H, huyện L V, tỉnh Đ T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 23/5/2022, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Trần Thị B trình bày:
* Về hôn nhân:
Chị Bvà anh T do mai mối, tổ chức đám cưới năm 2002, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Ph H, huyện L V, tỉnh Đ T Sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng càng ngày không hợp nhau. Anh T thường xuyên nhậu nhẹt, không lo làm ăn chăm sóc cho vợ con, anh Tmỗi lần uống rượu vào kiếm chuyện đánh đập chị B, đánh bằng tay và bằng cây vào người chị B, việc đánh này Chị B không có báo chính quyền địa phương nên không có lập biên bản. Vì anh Tnhiều lần đánh đập Chị B nên Chị B bỏ về cha mẹ ruột ở Vinh Long từ năm 2019 sống đến nay, từ lúc Chị B về cha mẹ ruột sống anh Tkhông có tới để khuyên Chị B về. Chị Bnhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có hai con chung tên Châu Văn K, sinh ngày 03/12/2003 và Châu Thị N Y, sinh ngày 25/02/2013, Kiệt đã trưởng thành Chị Bkhông yêu cầu giải quyết, N Yđang sống với anh T. Chị đồng ý giao N Ycho anh Tnuôi dưỡng, Chị Bkhông cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ khi ly hôn: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn Châu Văn T đã đượcTòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt lần 2 không có ly do và không có ý kiến phản bác yêu cầu của nguyên đơn.
Tại tờ tường trình ngày 04/5/2022, Châu Thị N Y có ý kiến được sống với anh T, không yêu cầu Chị Bcấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Trần Thị B có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Trần Thị B với Châu Văn T, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Châu Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Trần Thị B và Châu Văn T tổ chức đám cưới năm 2002 và đăng ký kết hôn ngày 17/9/2008 , đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, hơn nữa anh Tkhông lo lắng chăm sóc gì cho vợ con, ngoài ra anh Tcòn uống rượu kiếm chuyện đánh Chị Bnhiều lần, vì thế Chị B bỏ về cha mẹ ruột sống, tình cảm vợ chồng giữa Chị Bvà anh Txa nhau từ năm 2019 cho đến nay, chị Diễm xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng Chị Bvẫn cương quyết ly hôn với anh T. Đối với anh Ttừ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa anh Tvẫn vắng mặt và không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu của chị B. Điều đó cho thấy anh Tđã từ bỏ cuộc hôn nhân này với chị B, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của Chị Bvà anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc Chị Byêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Blà có căn cứ.
[3] Về con chung: Có hai con chung tên Châu Văn K, sinh ngày 03/12/2003 đã trưởng thành Chị Bkhông yêu cầu giải quyết, đối với Châu Thị N Y, sinh ngày 25/02/2013 đang sống với anh T, Chị Bđồng ý giao con chung cho anh Tđược tiếp tục nuôi con. Việc giao con này của Chị Blà có cơ cở bởi lẽ, yêu cầu này phù hợp với nguyện vọng của Châu Thị N Y được sống với anh Tvà phù hợp với thực tế là từ khi xa nhau đến nay N Ysống với anh Tđược anh T nuôi dưỡng chu đáo, để ổn định cho N Y, Hội đồng xét xử cần giao con chung Châu Thị N Y cho anh Tđược tiếp tục nuôi đưỡng. Về cấp dưỡng, anh Tkhông có ý kiến phản bác về việc giao con chung và không cấp dưỡng của chị B, hơn nữa Chị Bcũng không tự nguyện cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Không có, Chị B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ khi ly hôn: Không có, không xem xét giải quyết.
Anh Châu Văn T từ khi thụ lý vụ án đến nay mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định trong đó có việc thông báo cho anh Tbiết việc tình trạng tài sản chung và nợ khi ly hôn nhưng anh T cũng không có ý kiến hay phản bác yêu cầu của Chị Bvề vấn đề tài sản chung và nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn Trần Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 đồng, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: cho Trần Thị B được ly hôn với Châu Văn T.
2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Châu Thị N Y, sinh ngày 25/02/2013 cho Châu Văn T được tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Tcùng các thành viên gia đình không được cản trở Chị B trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Trần Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng. Được khấu trừ 300.000 đồng mà Trần Thị B đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số:0010618, ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L V, tỉnh Đ T. (Chị B đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/01/2022). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 1/ 2/
Tô Thị Hoa Lư