- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HOÀNG THỊ B và LỤC VĂN U"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HNGĐ-ST Ngày 29 - 7 - 2022 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Quốc Chinh
Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Bà Đặng Thị Thanh Nhung
Ông Phương Khánh Giang
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Ea Súp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Ea Súp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 06 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2022/QĐST-DS ngày 14 tháng 07 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị B – SN: 1996
Địa chỉ: Thôn 06, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
Bị đơn: Anh Lục Văn U – SN: 1995
Địa chỉ: Thôn 06, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/02/2022, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, và lời khai tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Hoàng Thị B trình bày:
Chị B và anh Lục Văn U tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 02 tháng 06 năm 2016. Trong thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc và đã có 01 con chung Lục Bảo K – SN: 23/01/2013, tuy nhiên từ ngày chị sinh con, anh U thay đổi tình nết, không quan tâm con cái, không có trách nhiệm với gia đình, anh U thường đánh đập chị, đuổi chị ra khỏi nhà, anh U còn có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Chị thấy tình cảm giữa chị và anh U không còn nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ea Súp giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lục Văn U.
Về con chung: Chị và anh Lục Văn U không có con nuôi, con riêng, anh chị chỉ có 01 con chung Lục Bảo K – SN: 23/01/2013. Nay ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị không yêu cầu anh Lục Văn U phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lục Văn U, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập thông qua UBND xã C, niêm yết thông báo tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại UBND xã C, tại nhà anh Lục Văn U và tại Tòa án huyện Ea Súp tuy nhiên anh U đều vắng mặt tại Tòa án không lý do. Do vậy anh U không thể hiện quan điểm của mình trong vụ án.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 08 tháng 04 năm 2022 nguyên đơn đã được tiếp cận, thống nhất với chứng cứ đã được công khai và không thay đổi bổ sung đơn khởi kiện hay nộp chứng cứ gì mới, không yêu cầu triệu tập đương sự khác đến tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, nguyên đơn không có ý kiến tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 96, 97, 98, 175, 176, 197, 198, 204 và 220 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị B, xử cho chị Hoàng Thị B được ly hôn với anh Lục Văn U, về con chung giao con chung Lục Bảo K cho chị Hoàng Thị B nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chấp nhận sự tự nguyện của chị B không yêu cầu anh Lục Văn U phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hoàng Thị B khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lục Văn U có nơi cư trú thôn 06, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án huyện Ea Súp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục: Đối với bị đơn anh Lục Văn U trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập thông qua UBND xã C và chị gái của anh U là chị Lục Thị L, niêm yết thông báo tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử tại UBND xã C, tại nhà anh Lục Văn U và tại Tòa án huyện Ea Súp đồng thời liên hệ qua số điện thoại của anh U, tuy nhiên anh U không hợp tác, không có mặt tại Tòa án. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xử vắng mặt.
Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy chị Hoàng Thị B và anh Lục Văn U tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 02 tháng 06 năm 2016 đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị B và anh Lục Văn U là hợp pháp. Trong thời gian chung sống chị B, anh U nảy sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do anh, chị tính tình không hợp, nhất là vấn đề tình cảm, anh U thường đánh đập chị B, đuổi chị ra khỏi nhà không quan tâm vợ con, không có trách nhiệm với gia đình. Xét tình cảm, hạnh phúc của chị B, anh U không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị B, xử cho chị Hoàng Thị B được ly hôn với anh Lục Văn U.
Về con chung: Hội đồng xét xử nhận thấy chị B, anh U không có con nuôi, con riêng anh chị chỉ có 01 con chung cháu Lục Bảo K – SN: 23/01/2013. Khi làm đơn khởi kiện chị B yêu cầu Tòa án giao con cho anh U nuôi dưỡng tuy nhiên quá trình Tòa án giải quyết anh U không hợp tác, thường vắng mặt tại địa phương, thay đổi nơi cư trú, không cung cấp địa chỉ cho chị B và Tòa án biết, anh U cũng không trực tiếp nuôi con mà để con cho mẹ đẻ nuôi dưỡng. Nay chị B có nguyện vọng nuôi con, xét yêu cầu nuôi con của chị B, nhận thấy chị B hiện làm Công ty, thu nhập khoảng 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tháng, có nơi cư trú ổn định, có điều kiện chăm sóc giáo dục con nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để giao con chung cho anh U nuôi dưỡng mà cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Hoàng Thị B, giao cháu Lục Bảo K cho chị B nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Về cấp dưỡng chị B không yêu cầu anh Lục Văn U cấp dưỡng nuôi con nên anh U không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ: Chị B và anh U không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án. Chị Hoàng Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, 266, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị B, xử cho chị Hoàng Thị B được ly hôn với anh Lục Văn U.
Về con chung: Giao cháu Lục Bảo K – SN: 23/01/2013 cho chị Hoàng Thị B nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị B không được quyền ngăn cản anh Lục Văn U đến thăm nom chăm sóc con chung.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Anh Lục Văn U không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị B và anh U có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ: Chị Hoàng Thị B và anh Lục Văn U không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Hoàng Thị B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị B đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea Súp theo biên lai thu số 0003483 ngày 15/02/2022.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tử ngày niêm yết bản án.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nôi nhaän : - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Ea Súp; - Chi cục THA huyện E; - UBND xã C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lƣu Quốc Chinh |