vanban.org

Bản án 09/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Buộc ông Bùi Huy C phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/4/2022) là 50.212.180 đồng (Trong đó: Nợ gốc 33.434.690 đồng, nợ lãi quá hạn 16.777.490 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/DS-ST
Ngày 12-4-2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thức và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Từ Quốc Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12/4/2022, tại Phòng xử án, trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2021/TLST-DS ngày 17/11/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-DS ngày 07/3/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thuơng mại cổ phần S.

Địa chỉ: Số X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hà Văn Tr – Phó phòng giao dịch B - Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Đắk Lắk – có mặt. (Văn bản ủy quyền số 27/2021/UQ-CNĐL ngày 30/01/2021).

Địa chỉ: Số M, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk

Bị đơn: Ông Bùi Huy C, sinh năm 1978 – vắng mặt.

Địa chỉ: Số N, tổ dân phố Z, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/8/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Sau đây gọi tắt là ngân hàng) trình bày có nội dung:

Ngày 05/12/2018, Ngân hàng có ký với ông Bùi Huy C Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng-gọi chung là hợp đồng), căn cứ thu nhập của ông C, ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông C đã sử dụng thẻ tín dụng giao dịch với số tiền 33.434.690 đồng, và kể từ thời điểm được cấp thẻ tín dụng cho đến thời điểm ngân hàng khởi kiện, ông Bùi Huy C đã vi phạm nghĩa vụ của bên được cấp hạn mức tín dụng qua thẻ (vi phạm nghĩa vụ của bên vay tiền). Mặc dù đã nhiều lần ngân hàng yêu cầu ông C hoàn trả lại số tiền ông C đã giao dịch trong thẻ tín dụng được cấp nhưng ông C vẫn không thanh toán. Tính đến ngày 12/4/2022 ông C còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 50.212.180 đồng, trong đó: Nợ tiền gốc là 33.434.690 đồng, nợ tiền lãi quá hạn là 16.777.490 đồng.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông C phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ tính đến ngày 12/4/2022 là 50.212.180 đồng và các khoản lãi phát sinh từ ngày 13/4/2022 cho đến khi ông C thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền vay đối với Ngân hàng được quy định cụ thể tại Hợp đồng tín dụng.

Bị đơn ông Bùi Huy C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông C phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ tính đến ngày 12/4/2022 là 50.212.180 đồng, trong đó: Nợ gốc 33.434.690 đồng, nợ lãi quá hạn 16.777.490 đồng và các khoản lãi phát sinh từ ngày 13/4/2022 cho đến khi ông C thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền vay đối với Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 07/9/2021 nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo; Tòa án ra thông báo về quyền lựa chọn hòa giải và lựa chọn hòa giải viên, ngày 21/10/2021 nguyên đơn có đơn đề nghị không lựa chọn hòa giải viên; Ngày 10/11/2021, Tòa án thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, ngày 16/11/2021 nguyên đơn nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng dân sự (Hợp đồng tín dụng) theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Bùi Huy C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Về hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 05/12/2018, Ngân hàng có ký với ông C hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (loại tín chấp), căn cứ thu nhập của ông C ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng là 30.000.000 đồng. Ông C đã sử dụng thẻ tín dụng giao dịch nhiều lần với số tiền 33.434.690 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Bùi Huy C đã vi phạm nghĩa vụ của bên được cấp hạn mức tín dụng qua thẻ (vi phạm nghĩa vụ của bên vay tiền). Mặc dù đã nhiều lần ngân hàng yêu cầu ông C hoàn trả lại số tiền ông C đã giao dịch trong thẻ tín dụng được cấp nhưng ông C vẫn không thanh toán. Tính đến ngày 12/4/2022 ông C còn nợ Ngân hàng số tiền 50.212.180 đồng (trong đó nợ gốc 33.434.690 đồng, nợ lãi quá hạn 16.777.490 đồng). Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ tính đến ngày 12/4/2022 là 50.212.180 đồng và các khoản lãi phát sinh từ ngày 13/4/2022 cho đến khi ông C thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán tiền vay đối với Ngân hàng được quy định cụ thể tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là có căn cứ phù hợp với Điều 91, Điều 95 luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét quan điểm của kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 985.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008337 ngày 16/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn ông Bùi Huy C phải chịu 2.510.609 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Buộc ông Bùi Huy C phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/4/2022) là 50.212.180 đồng (Trong đó: Nợ gốc 33.434.690 đồng, nợ lãi quá hạn 16.777.490 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng) nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 985.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008337 ngày 16/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn ông Bùi Huy C phải chịu 2.510.609 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ