- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Liên Việt- XINH_QUANG"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu Điện LV.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H UYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/DS-ST Ngày: 13 – 5 – 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Khải 2. Bà Trần Thị Bé Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2021/TL.ST-DS, ngày 04 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 81/2022/QĐST-DS ngày 28/4/2022, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện LV; địa chỉ: Số 1, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, số 210 Trần Quang K, phường TT, quận HK, thành phố H.. Người đại diện theo pháp luật Ông Phạm Doãn S – chức vụ Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu T – Chức vụ Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện LV - Chi nhánh HG. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hùng Tr - Chuyên viên hỗ trợ hoạt động – phòng hỗ trợ hoạt động – Chi nhánh HG; địa chỉ: số 32, Nguyễn Công Tr, Phường 1, thành phố VT, tỉnh H (có mặt). 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đồng Q, sinh năm 1981; bà Châu Thị Ngọc X – sinh năm 1983; cùng trú tại địa chỉ: Ấp 10, xã VTr, huyện VT, tỉnh H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15/10/2021 và quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần bưu điện LV (gọi tắt là Ngân hàng LV) do ông Nguyễn Hùng Tr trình bày:
Ngân hàng LV chi nhánh HG cấp tín dụng cho bà Châu Thị Ngọc X; ông Nguyễn Đồng Q số tiền 113.000.000đồng theo hợp đồng tín dụng số HDTD800201807279 ký ngày 27/7/2018 cụ thể như sau: Mục đích vay vốn là sửa chữa nhà ở, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 11,6%/năm; phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Áp dụng cố định từ ngày 27/7/2018 đến hết ngày 26/7/2019. Sau ngày 26/7/2019 áp dụng lãi suất xếp hạng tín dụng của LienVietPostBank tại thời điểm điều chỉnh và định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; kỳ hạn trả nợ gốc: Trả định kỳ hàng tháng vào ngày 25; kỳ hạn trả lãi: hàng tháng cùng kỳ trả nợ gốc; Số tiền gốc đã trả 78.866.217; số tiền lãi đã trả: 24.364.343 đồng; Khoản vay trên đã quá hạn kể từ ngày 25/11/2020.
Quá trình đôn đốc thu hồi nợ: Ngân hàng LV chi nhánh HG đã nhiều lần đôn đốc bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ vay, nhưng bà X và ông Q cố tình tránh mặt không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hiện tại bà X và ông Q vẫn chưa thanh toán hết nợ vay dẫn đến gây nhiều thiệt hại cho ngân hàng. Tổng số tiền nợ mà bà X và ông Q còn phải trả cho ngân hàng LV tính đến ngày 07/10/2021 là 37.237.442 đồng. Trong đó nợ gốc 34.133.783đồng; lãi trong hạn 2.388.556 đồng; lãi quá hạn 652.740đồng; lãi chậm trả lãi 62.363đồng.
Ngân hàng LV khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà X, ông Q có
trách nhiệm trả cho ngân hàng tổng số tiền 37.237.442 đồng tạm tính đến ngày khởi kiện, yêu cầu tiếp tục tính lãi và các khoản lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi tất toán khoản vay.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xác định, quá trình đôn đốc thu hồi nợ từ ngày 07/10/2021 ông Nguyễn Đồng Q và bà Châu Thị Ngọc X đã thanh toán thêm một phần nợ gốc và lãi tương ứng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn đã thanh đoán được số nợ gốc là 87.098.000đồng; nợ lãi: 29.997.118 đồng. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán tổng số tiền 29.730.188 đồng. Trong đó nợ gốc 25.902.000đồng; nợ lãi 3.828.188 đồng trong đó, lãi trong hạn 1.909.258 đồng; Lãi quá hạn gốc 1.801.777đồng; lãi chậm trả lãi 117.153 đồng.
Quá trình tố tụng tại tòa án, bị đơn bà Châu Thị Ngọc X; ông Nguyễn Đồng Q đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, chưa ghi nhận dược ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng pháp luật; Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; bị đơn không chấp hành tốt quy định pháp luật trong suốt quá trình tố tụng, cụ thể là vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 26; 35, 39, 227, 228 bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 31/12/2016 của UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng số tiền 29.730.188 đồng. Trong đó nợ gốc 25.902.000đồng; nợ lãi 3.828.188 đồng trong đó, lãi trong hạn 1.909.258 đồng; Lãi quá hạn gốc 1.801.777đồng; lãi chậm trả lãi 117.153 đồng; tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số HDTD800201807279 ký ngày 27/7/2018 cho đến khi bị đơn trả hết số nợ. Về án phí: bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng LV khởi kiện bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã lý kết số HDTD800201807279 ký ngày 27/7/2018, mục đích vay: Sửa chữa nhà ở nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Châu Thị Ngọc X; ông Nguyễn Đồng Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số HDTD800201807279 ký ngày 27/7/2018 ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần bưu điện LV Chi nhánh HG và bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q với nội dung Ngân hàng sẽ cho ông Q và bà X vay số tiền 113.000.000đồng; hình thức bảo đảm: Không có bảo đảm về tài sản; thời hạn vay 48 tháng tính từ ngày 27/7/2018 đến ngày 26/7/2022; lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 11,6%/năm; phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Áp dụng cố định từ ngày 27/7/2018 đến hết ngày 26/7/2019. Sau ngày 26/7/2019 áp dụng lãi suất xếp hạng tín dụng của LienVietPostBank tại thời điểm điều chỉnh và định kỳ điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lãi suất nợ lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; kỳ hạn trả nợ gốc: Trả định kỳ hàng tháng vào ngày 25; kỳ hạn trả lãi: hàng tháng cùng kỳ trả nợ gốc.
Quá trình thực hiện hợp đồng, căn cứ vào Bảng kê dư nợ gốc, lãi chậm trả gốc, lãi chậm trả lãi tính từ ngày 27/7/2018 đến ngày 13/5/2022 mà nguyên đơn cung cấp tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xác định, quá trình đôn đốc thu hồi nợ từ ngày 07/10/2021 ông Nguyễn Đồng Q và bà Châu Thị Ngọc X đã thanh toán thêm một phần nợ gốc và lãi tương ứng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn đã thanh đoán được số nợ gốc là 87.098.000đồng; nợ lãi: 29.997.118 đồng. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán tổng số tiền 29.730.188 đồng. Trong đó nợ gốc 25.902.000đồng; nợ lãi 3.828.188 đồng trong đó, lãi trong hạn 1.909.258 đồng; Lãi quá hạn gốc 1.801.777đồng; lãi chậm trả lãi 117.153 đồng.
Quá trình tố tụng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố ý vắng mặt không đến Tòa án để trình bày ý kiến. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án trong quá trình tố tụng bao gồm: Hợp đồng tín dụng số HDTD800201807279 ký ngày 27/7/2018 ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện LV Chi nhánh HG và bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q; Giấy đề nghị kiêm khế ước nhận nợ; Báo cáo chi tiết nợ quá hạn tên Khách hàng Châu Ngọc X tính đến ngày 01/10/2021; bản photo sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn của ông Nguyễn Đồng Q và bà Châu Ngọc X; Giấy ủy quyền số 238/2021/UQ-LienVietPostbank.HG ngày 11/10/2021; Quyết định bổ nhiệm số 3688/2021/QĐ-LienVietPostBank ngày 13/4/2021 đối với ông Trần Hữu T; Quyết định 6650/2017/QĐ-TGĐ ngày 20/6/2017 về việc ủy quyền thực hiện hoạt động tố tụng đối với giám đốc chi nhánh; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (bản sao); Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh; bản photo giấy chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Hùng Tr; chứng minh được việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở khẳng định Bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q đã vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, cụ thể là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo đúng định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Dẫn đến khoản vay trên đã quá hạn từ ngày 25/11/2020.
Căn cứ quy định tại Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng thì Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật và ngân hàng có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng, buộc thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận.
Về mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng là lãi suất đã được ban hành và thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Do đó, Ngân hàng Liên Việt yêu cầu bà X, ông Q thanh toán tổng số tiền 29.730.188 đồng và yêu cầu được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số HDTD800201807279 ký kết ngày 27/7/2018 kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bị đơn trả hết số nợ là phù hợp quy định pháp luật và có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016; bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 1.486.509đồng.
Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 5; Điều 6; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39; Điều 91; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu Điện LV.
Buộc bị đơn bà Châu Thị Ngọc X, ông Nguyễn Đồng Q có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt tổng số tiền 29.730.188 đồng (hai mươi chín triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm tám mươi tám đồng); nợ lãi 3.828.188 đồng (ba triệu tám trăm hai mươi tám nghìn một trăm tám mươi tám đồng): Trong đó, nợ gốc 25.902.000 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm lẻ hai nghìn đồng); lãi trong hạn 1.909.258 đồng (một triệu chín trăm lẻ chín nghìn hai trăm năm mươi tám đồng); lãi quá hạn gốc 1.801.777đồng (một triệu tám trăm lẻ một nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng); lãi chậm trả lãi 117.153đồng (một trăm mười bảy nghìn một trăm năm mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số HDTD800201807279 ký kết ngày 27/7/2018 cho đến khi bị đơn trả hết số nợ.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Châu Thị Ngọc X và ông Nguyễn Đồng Q phải nộp số tiền 1.486.509 đồng (một triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm lẻ chín đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần bưu điện LV được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 931.000đồng (chín trăm ba mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai số 0002567 ngày 04/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - Cổng TTĐT Tòa án; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Lê Thị Diệu |