vanban.org

Bản án 09/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn Hải

Buộc Công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ Ba Sao phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình ông Vũ Văn Hải số tiền: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Về chi phí tố tụng: Ông Vũ Văn Hải phải chịu 3.650.000đ (Ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và địn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn Hải
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2022/DS-ST
Ngày 16 tháng 8 năm 2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Quỳ,

Ông Nguyễn Gia Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 16/8/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 35/2020/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 33/2022/QĐST-DS ngày 22/7/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Vũ Văn Hải, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Khu 8, xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Công ty cổ phần TM&XD Ba Sao Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc Đạt, sinh năm 1993 – Giám đốc. ( Có mặt). Địa chỉ công ty: Khu Bồ Kết, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Địa chỉ hiện nay: Xã Ngọc Lập- huyện Yên Lập- tỉnh Phú Thọ

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà: Phan Thị Bính, sinh năm 1960, ( Có mặt).

Địa chỉ: Khu 8, xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Chị: Vũ Thị Hà, sinh năm 1986

Địa chỉ: Khu 8, xã Giáp Lai, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Ông Hải và chị Hà xin vắng mặt.

Người giám định:

Bà Cao Thị Thanh Hà- Thí nghiệm viên- Trung tâm kiểm định chất lượng công trình xây dựng Phú Thọ,

Địa chỉ: Phường Tân Dân- Đường Nguyễn Tất Thành- TP Việt Trì- tỉnh Phú Thọ,

Ông Phan Quốc Hội- Người thực hiện thí nghiệm ngày 23/4/2020.

Công tác tại trung tâm thí nghiệm và kiểm định công trình xây dựng LAS- XD 1312, thuộc Công ty Bảo Kiêm.

Địa chỉ: Thị trấn Tây Đằng- huyện Ba Vì- TP Hà Nội.

( Bà Hà và ông Hội vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn ông Vũ Văn Hải Nguyễn Thị Bính- người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Gia đình ông xây dựng căn nhà tại khu Thống Nhất, thị trấn Thanh Sơn. Ngày 25/3/2020, ông có ký kết với Công ty cổ phần thương mại và xây dựng Ba Sao ( gọi tắt là Công ty Ba Sao) về việc mua bán bê tông thương phẩm. Sau khi ký kết hợp đồng Công ty Ba Sao sẽ cung cấp bê tông với mác 250 R 28 cho gia đình ông. Đến ngày 27/3/2020 Công ty Ba Sao đã cung cấp bê tông cho gia đình ông, nhưng cán bộ kỹ thuật của công ty Ba Sao không để lại mẫu cho gia đình ông trước khi đổ bê tông. Sau khi đổ bê tông xong gia đình đã tuân thủ đầy đủ các quy trình bảo dưỡng, được hơn 03 tuần thì rỡ cốt pha thấy có dấu hiệu bất thường của bê tông: Bê tông mềm gõ nhẹ cũng dễ vỡ. Gia đình đã liên lạc với công ty Ba Sao để làm rõ nguyên nhân và yêu cầu công ty phải có hướng khắc phục. Công ty Ba Sao đã cử người đến gia đình ông bà để giải quyết và mời Công ty cổ phần xây dưng và thương mại Bảo Kiêm (gọi tắt là Công ty Bảo Kiêm) đến khoan mẫu thực hiện giám định. Công ty Bảo Kiêm lấy mẫu bằng súng bật nẩy và cho kết quả ngày 23/4/2020 không cụ thể mà chỉ ghi cường độ daN/xm2 đối với từng phòng công trình xây dựng nhà. Trước đó, ngày 22/4/2020, ông bà cũng đã mời Công ty TNHH tư vấn và xây dựng Hải Đăng Phú Thọ (gọi tắt là Công ty Hải Đăng) lấy mẫu bê tông kiểm tra, trả kết quả ngày 25/4/2020: Cường độ nén của bê tông của cầu kiên kiểm tra không đạt mác yêu cầu so với mác bê tông thiết kế là 250daN/cm2. Do kết quả của Công ty Bảo

2

Kiêm và Công ty Hải Đăng có mâu thuẫn nên hai bên mời Trung tâm kiểm định chất lượng công trình xây dựng Phú Thọ- Phòng thí nghiệm cơ lý đất và vật liệu xây dựng- LaS- XD 242 (gọi tắt là LaS- XD 242) kiểm tra mẫu bê tông. Tại kết quả ngày 19/6/2020, LAS XD 242 kết luận: Mẫu không đạt M250. Theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên, Công ty Ba Sao phải cung cấp bê tông thương phẩm M250R28 cho gia đình ông bà, nhưng bê tông thương phẩm Công ty Ba Sao đã đổ mái sàn tầng I công trình xây dựng nhà ở của gia đình ông không đạt mác theo thỏa thuận tại Hợp đồng ngày 25/3/2020. Tại đơn khởi kiện và quá trình hòa giải, ông Hải yêu cầu Công ty Ba Sao bồi thường cho gia đình ông 200.000.000đ. Tại phiên tòa, bà Bính- đại diện cho ông Hải yêu cầu Công ty Ba Sao phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình ông với số tiền 120.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).

- Đại diện bị đơn trình bày: Ông Đạt xác nhận lời trình bày của ông Hải, bà Bính về thời gian Công ty Ba Sao ký hợp đồng mua bán thương phẩm mác M250-R28 và đổ bê tông công trình xây dựng nhà ở gia đình ông Hải là đúng. Ngày 27/3/2020, Công ty Ba Sao tiến hành đổ mái tầng 1 nhà ông Hải bà Bính tại Khu Thống Nhất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, 15 khối bê tông đúng mác M250- R28 như thỏa thuận trong Hợp đồng. Sau khi đổ bê tông cán bộ kỹ thuận Công ty đã hướng dẫn qui trình bảo dưỡng bê tông đã đổ tại sàn I cho gia đình ông Hải. Do gia đình ông Hải không thực đúng thời gian bảo dưỡng, đã có sự tác động vật lý vào sàn bê tông nên mới gây sự cố về chất lượng bê tông của Công ty. Khi gia đình ông Hải gọi điện về sự cố bê tông, Công ty đã cử ngay đại diện kỹ thuật đến xem xét. Ngày 23/4/2020, Công ty Ba Sao đã gửi Thông báo đề nghị gia đình ông Hải dừng mọi hoạt động xây dựng trên công trình để Văn phòng thí nghiệm Công ty Bảo Kiêm kiểm tra chất lượng bê tông thương phẩm của Công ty Ba Sao đã cung cấp cho gia đình ông Hải ngày 27/3/2020. Gia đình ông Hải chỉ dừng xây dựng đến 12 giờ ngày 24/4/2020, sau đó tiếp tục xây dựng tầng 2. Do đã có sự tác động vật lý vào bê tông sàn tầng I nên Công ty Ba sao không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo yêu cầu khởi kiện của gia đình ông Hải vì: Tại kết quả kiểm tra ngày 23/4/2020 của Công ty Bảo Kiêm cho kết quả bê tông thương phẩm đã đổ tại sàn tầng I công trình xây dựng nhà ông Hải vượt Mác 250. Công ty Ba Sao chỉ chấp nhận hỗ trợ 15.000.000đ, giá trị khối lượng bê tông đã đổ tại sàn tầng I nhà ông Hải.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Bính trình bày: Bà đồng ý với ý kiến của nguyên đơn, ngoài ra không có đề nghị gì khác.

Chị Vũ Thị Thu Hà trình bày: Vào năm 2019 bố mẹ chị có mua 01 mảnh đất đứng tên chị nhưng đây là tài sản của bố mẹ chị, năm 2020 bố mẹ chị có làm căn nhà trên đất đã mua và bố chị- ông Vũ Văn Hải ký Hợp đồng mua, bán bê tông với Công ty Ba Sao. Khi đổ xong mái tầng I, xảy ra sự cố bê tông không đạt chất lượng, chị là người đem mẫu đi kiểm định tại Trung tâm kiểm định chất lượng công trình xây dựng Phú Thọ- Phòng thí nghiệm cơ lý đất và vật liệu xây

3

dựng- LaS- XD 242, cho kết quả bê tông không đạt chất lượng. Chị đồng ý với quan điểm của ông Hải yêu cầu công ty Ba Sao phải bồi thường số tiền là 200.000.000đ.

 Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào các Điều 513, 515, 516, 517, 519 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn Hải. Buộc Công ty cổ phần TM&DV Ba Sao phaỉ có trách nhiệm bồi thường cho gia đình ông Hải số tiền 10.326.000đ ( Mười triệu, ba trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Về chi phí tố tụng: Công ty Cổ phần thương mại và xây dựng Ba Sao và ông Vũ Văn Hải phải chịu ½ chi phí tố tụng theo qui định của pháp luật.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Vũ Văn Hải, qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326.

Buộc bị đơn anh Nguyễn Ngọc Đạt- Đại diện công ty Ba Sao phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Vũ Văn Hải khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần thương mại và xây dựng Ba Sao bồi thường số tiền 200.000.000đ do bê tông không đạt chất lượng , ảnh hưởng đến chất lượng công trình nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng dịch vụ, bị đơn có trụ sở tại địa bàn huyện Thanh Sơn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn.

Về nội dung vụ án:

Hợp đồng mua bán bê tông ngày 25/3/2020 được giao kết trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận giữa ông Vũ Văn Hải- địa chỉ: Khu Thống nhất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn và Công ty cổ phần thương mại và cổ phần Ba Sao

4

(sau đây gọi tắt là Công ty Ba Sao) có tư cách pháp nhân và đăng ký kinh doanh, trụ sở tại Xóm Bồ Kết, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Khi giao kết hợp đồng các đều có đầy dủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Theo nội dung Hợp đồng, hai bên thỏa thuận thống nhất: Công ty Ba Sao thực hiện bán bê tông thương phẩm và thực hiện đổ bê tông sàn cho công trình xây dựng nhà ở gia đình ông Vũ Văn Hải địa chỉ tại khu Thống Nhất. Theo qui định tại Điều 116 và Điều 513- BLDS 2015, xác định là Hợp đồng dịch vụ hơp pháp.

Về yêu cầu của các bên đương sự:

2.1. Theo Nguyên đơn- Ông Hải, do Công ty Ba Sao vi phạm Điều I + II của Hợp đồng ngày 25/3/2020, về Mác, chất lượng nguồn gốc và qui cách bê tông thương phẩm dẫn đến bê tông sàn tầng I công trình xây dựng nhà ông Hải, sau khi dỡ cốt pha không đảm bảo chất lượng, bê tông mềm, dễ vỡ. Tại đơn khởi kiện, ông Hải yêu cầu Công Ty Ba Sao phải bồi thường cho gia đình ông 200.000.000đ do bê tông thương phẩm của Công ty Ba Sao kém chất lượng gây ảnh hưởng đến toàn bộ công trình xây dựng nhà ông. Tại phiên tòa, bà Bính- đại diện theo ủy quyền của ông Hải yêu bồi thường 120.000.000đ.

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và các tài liệu chứng cứ khác, HĐXX nhận định: Tại kết quả thí nghiệm cường độ bê tông ngày 23/4/2020 của Công ty Bảo Kiêm, do Công ty Ba Sao mời, không cho kết quả rõ ràng đạt mác bê tông hay không mà chỉ ghi cường độ daN/cm2 đối với từng phòng đã được Công ty Ba Sao đổ bê tông thương phẩm (BL36). Kết quả kiểm tra độ bền nén của mẫu bê tông khoan của Công ty LaS- XD 242 cho kết quả rõ ràng về chất lượng bê tông thương phẩm, xác định: Mẫu không đạt M250 BL7); Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/7/2021 xác định: Tại thời điểm xem xét tại chỗ nhà đã đưa vào sử dụng và được sơn toàn nhà, xuất hiện một số vết nứt tại các vị trí: Góc trần sàn phòng khách giáp cầu thang; Góc trâng giáp cửa đi hai bên; Giữa trần nhà phòng khách; Hai góc trần phòng ngủ vị trí giáp cầu thang; Hai góc trần phòng bếp, giữa phòng bếp. Như vậy có cơ sở chứng minh Công ty Ba Sao đã vi phạm Điều I + II Hợp đồng mua, bán bê tông đã được giao kết ngày 25/3/2020, giữa gia đình ông Vũ Văn Hải và Công ty Ba Sao. Theo qui định tại Điều 516- Bộ luật dân sự 2015, ông Vũ Văn Hải có quyền yêu cầu công Ty Ba Sao bồi thường thiệt hại.

Về số tiền 120.000.000đ ông Vũ Văn Hải, yêu cầu Công ty Ba Sao bồi thường: Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Hải và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng quan điểm với ông Hải yêu cầu Công ty Ba Sao phải bồi thường số tiền trên vì do bê tông thương phẩm của công ty Ba Sao không bảo đảm chất lượng, không đạt mác M250 thư đã thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến toàn bộ công trình nhà đã xây dựng xong và đã đưa vào sử dụng. Như đã phân tích trên, Công ty Ba Sao đã vi phạm Điều I + II Hợp đồng mua bán bê tông ngày 25/3/2020 nên phải bồi thường cho gia đình ông Hải khối

5

lượng 15m3 bê tông đã đổ tại sàn tầng I nhà ông Hải. Còn bồi thường về ảnh hưởng đến toàn bộ công trình nhà ông Hải thì chưa đủ cơ sở xem xét bởi lẽ:

Sau khi thực hiện Thông báo ngày 23/4/2020 của Công ty Ba Sao, gia đình ông Hải đã đơn phương chấm dứt thực hiện Hợp đồng ngày 25/3/2020 đối với Công ty Ba Sao và tiếp tục xây dựng tầng II, công trình xây dựng nhà ở gia đình ông là phù hợp qui tại khoản 2 Điều 516- BLDS 2015. Nhưng do toàn bộ công trình xây dựng nhà ở gia đình ông Hải không phải chỉ do Công ty Ba Sao cung cấp bê tông thương phẩm và công trình xây dựng đã xong, gia đình ông Hải đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng nên cần phải có kết luận của Trung tâm kiểm định chất lượng công trình xây dựng có thẩm quyền. Tại Quyết định số 06/2022/QĐ-TA, ngày 06/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, yêu cầu Trung tâm kiểm định LAS- XD 242), thực hiện kiểm định chất lượng công trình xây dựng nhà ở theo đơn yêu cầu ngày 14/12/2021 của ông Vũ Văn Hải. Đến ngày 27/6/2022, ông Hải xin rút yêu cầu giám định (BL 95). Do vậy HĐXX không có cơ sở để xem xét về chất lượng công trình xây dựng nhà ở gia đình ông Hải do bê tông thương phẩm không đạt mác 250 của Công ty Ba Sao là bao nhiêu %.

2.2. Về quan điểm của Công ty Ba Sao: Đại diện theo pháp luật của Công ty Ba Sao không đồng ý bồi thường thiệt hại cho gia đình ông Hải mà chỉ hỗ trợ 15.000.000đ giá trị khối lượng bê tông thương phẩm công ty đã đổ tại sàn tầng I, vì: Công ty đã thực hiện đúng thỏa thuận tại Mục I +II Hợp đồng ngày 25/3/2020, cung cấp bê tông thương phẩm bảo đảm đúng chất lượng theo thỏa thuận và đã đổ bê tông sàn tầng I công trình xây dựng nhà ông Hải ngày 27/3/2020. Do có sự tác động vật lý vào bê tông nên mới có hiện tượng rạn nứt bê tông sàn tầng I. Công ty đã mời Công ty Bảo kiểm kiểm tra chất lượng bê tông thương phẩm đã đổ ngày 27/3/2020, cho kết quả vượt mác R 250. Xét thấy, quan điểm phản biện của Công ty Ba Sao là không có cơ sở bởi những căn cứ đã phân tích tại mục 2.1.

2.3. Tại kết quả định giá tài sản ngày14/9/2021, xác định giá trị bê tông đã đổ tại sàn tầng I công trình xây dựng nhà ông Hải là 10.326.000đ.

. Từ những phân tích tại Mục [2] HĐXX kết luận: Có cơ sở xác định khối lượng bê tông thương phẩm Công ty Ba Sao đã thực hiện đổ tại sàn tầng I công trình xây dựng nhà ông Hải ngày 27/3/2020, không đạt mác M250. Do vậy quan điểm về giải quyết nội dung vụ án của Kiểm Sát Viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn Hải. Buộc Công ty Ba Sao phải có trách nhiệm bồi thường giá trị khối lượng bê tông thương phẩm đã đổ tại sàn tầng I công trình xây dựng nhà ông Hải số tiền do Người đại diện theo pháp luật của công ty Ba Sao đề nghị hỗ trợ tại Biên bản hòa giải ngày 21/6/2022 và tại phiên tòa là 15.000.000đ.

6

. Chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là: 7.300.000đ ( bảy triệu, ba trăm nghìn đồng). Do yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn Hải chỉ được chấp nhận một phần nên cả nguyên đơn và bị đơn đều phải chịu ½ chi phí tố tụng. Xác nhận ngày 05/7/2021, bà Phan Thị Bính (vợ ông Hải), nộp 6.300.000đ (Sáu triệu, ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí xem xét tại chỗ; Ngày 14/9/2021, bà Bính nộp 1.000.000đ ( một triệu đồng), chi phí định giá tài sản . Như vậy, Công ty Ba Sao (do ông Nguyễn Ngọc Đạt) đại diện thep pháp luật phải hoàn trả cho ông Vũ Văn Hải số tiền 3.650.000đ (Ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản .

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nên Công ty Ba sao, do ông Phạm Ngọc Đạt, đại diện phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Ông Vũ Văn Hải phải nộp án phí đối với một phần yêu cầu không được chấp nhận. Do ông Hải là người cao tuối có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 513; 516; 517- BLDS 2015; Khoản 1+5 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Khoản 2 Điều 158; Khoản 1 Điều 165; Khoản 1 Điều 273-BLTTDS; Khoản 1+ 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn Hải

Buộc Công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ Ba Sao phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình ông Vũ Văn Hải số tiền: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

2. Về chi phí tố tụng: Ông Vũ Văn Hải phải chịu 3.650.000đ (Ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận ngày 05/7/2021, bà Phan Thị Bính (vợ ông Hải), nộp 6.300.000đ (Sáu triệu, ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí xem xét tại chỗ; Ngày 14/9/2021, bà Bính nộp 1.000.000đ ( một triệu đồng), chi phí định giá tài sản.

Công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ Ba Sao phải nộp hoàn trả cho ông Vũ Văn Hải số tiền 3.650.000đ (Ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

2. Về án phí: Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Ba sao phải nộp

7

750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận cho ông Vũ Văn Hải.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết tại UBND nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ