vanban.org

Bản án 09/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Cường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HSST
Ngày: 11-3-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Thắng.

Ông Dương Ngô Phiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 11-3-2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2021/HS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/QĐXXST-HS ngày 25-02-2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn C, sinh năm 1994;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản D, xã TT, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hoá: 7/12;

Họ và tên bố: Trần Hữu S, sinh năm 1964;

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1968;

Vợ: Dương Thị Thu, sinh năm 1994 (đã ly hôn);

Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2016;

Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ 3;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/12/2020, tạm giam từ ngày 23/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vi Văn T, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ: Bản TB, xã ĐV, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1968 (vắng mặt).

3. Bà Trần Thị D, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Bản D, xã TT, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

1. Anh Lê Minh T, sinh năm 1983 (vắng mặt).

2. Anh Hg Văn H, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố CD, thị trấn PX, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

NỘI D VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 15 phút ngày 17/12/2020, tại thôn Đền Cô, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Yên Thế phối hợp với Công an Tam Hiệp kiểm tra phát hiện bắt quả tang Trần Văn C, sinh năm 1994 ở Bản D, xã TT, huyện Yên Thế có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu trong túi áo khoác phía trước bên trái của C 04 gói giấy cả hai mặt màu trắng in dòng kẻ màu xanh bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy) được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”; thu tại tay phải của C 01 tờ tiền 5.000 đồng; thu tại túi quần phía trước bên trái của C 01 điện thoại di động Masstel màu đen; thu tại túi quần phía trước bên phải của C 01 điện thoại di động Forme màu đen và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N3-5261.

Tại Kết luận giám định số 1837/KL-KTHS ngày 19/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 gói giấy có hai mặt màu trắng in dòng kẻ màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,160 gam, loại Heroine.

Quá trình điều tra, C khai nhận: Trưa ngày 16/12/2020, C đi xe mô tô biển kiểm soát 98N3-5261 đến nhà anh Vi Văn T, sinh năm 1971 ở bản TB, xã ĐV, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang chơi và ở lại nhà anh T. Đến sáng ngày 17/12/2020, C vay của anh T 400.000 đồng mục đích để mua ma túy sử dụng nhưng C không nói cho T biết. Sau đó, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N3-5261 đến nhà anh Vũ Văn Khanh, sinh năm 1976 ở thôn Đền Cô, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nhà anh Khanh thấy cổng nhà anh Khanh đóng nên C gọi “bà ơi” thì nghe có một giọng nam thưa, C nói “để cho con bốn cái” (ý C hỏi mua 400.000 đồng ma túy). Sau đó, thấy cổng mở hé từ bên dưới nên C đưa 400.000 đồng qua khe cổng, người bên trong nhà cầm tiền và ném ra ngoài cho C 04 gói giấy màu trắng, C nhìn và biết đây là ma túy nên cầm và đút vào túi áo khoác phía trước bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi C đi được khoảng 500m thì C lấy ra 5.000 đồng và rẽ vào quán ven đường mua xi lanh để sử dụng ma túy. Khi C vừa dừng xe lại thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và thu giữ vật chứng có liên quan như đã nêu ở trên.

Ngoài ra, C khai nhận sáng ngày 16/12/2020 C đi đến thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên và gặp một người đàn ông không quen biết, sau đó C có mua của người này 100.000 đồng ma túy Heroine và mang về nhà sử dụng hết. Ngày 13/01/2021, Công an huyện Yên Thế đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Cáo trạng số 07/CT-VKS-YT ngày 05-02-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội D bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Trần Văn C từ 14 đến 16 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 17-12-2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo C.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.000 đồng (Năm nghìn đồng); Trả lại C 01 điện thoại di động Masstel màu đen; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu QT có chứa chất ma túy.

Về án phí: Bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vi Văn T, bà Nguyễn Thị K, bà Trần Thị D, người làm chứng là anh Hg Văn H, anh Lê Minh T vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.

Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 08 giờ 15 phút ngày 17/12/2020, tại thôn Đền Cô, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Yên Thế phối hợp với Công an Tam Hiệp kiểm tra phát hiện bắt quả tang Trần Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 0,160 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Bị cáo tàng trữ trái phép phép 0,160 gam ma túy Heroine, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 07/CT-VKS-YT, ngày 05-02-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

Đối với anh Vi Văn T khi cho C vay tiền anh T không biết C sử dụng tiền để mua ma túy nên không vi phạm pháp luật. Anh T không yêu cầu C phải trả lại anh số tiền trên nên không đặt ra xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho C, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với những người trong gia đình anh Vũ Văn Khanh thì những người này đều xác định không quen biết C và cũng không bán ma túy cho C. Do C không nhìn thấy mặt và không biết người bán ma túy là ai nên không có căn cứ để điều tra, xác minh xử lý.

C khai, sáng ngày 16/12/2020 C có mua 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) ma túy của một người đàn ông không quen biết tại thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, do C không quen biết, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người này nên không có căn cứ để xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C vào ngày 16/12/2020, ngày 13/01/2021, Công an huyện Yên Thế đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C là đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi:

Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật song vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử lý vật chứng: Đối với số tiền 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) là của C, không liên quan đến việc tàng trữ ma túy, C không lấy lại nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động Masstel màu đen là của C, không liên quan đến hành vi phạm tội, C xin lại nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 phong bì thư niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT”, đây là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt: Trần Văn C 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 17-12-2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn C.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ 01(một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “QT” có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bắc Giang và chữ ký cùng tên của giám định viên, dấu niêm phong của công an xã Tam Hiệp và chữ ký cùng tên của thành phần tham gia.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.000 đồng (Năm nghìn đồng), trả lại Trần Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đều được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu “QT1” có dấu niêm phong của Công an thị trấn PX và chữ ký cùng tên của thành phần tham gia, dấu niêm phong của Công an xã Tam Hiệp và chữ ký cùng tên của thành phần tham gia.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn C.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ