vanban.org

Bản án 09/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 16/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/11/2020). Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,8724 gam ma túy loại Heroine cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại sau giám định và 01 lọ nhựa Xylytol. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HSST
Ngày 16 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khương Đặng Khánh Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Vĩnh và ông Lê Trung

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2021 tại hội trường nhà văn hóa tổ dân phố Bình Sơn, thị trấn Tam Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/HSST ngày 12/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST - HS ngày 02/4/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy T, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Sông Lô; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến B (đã chết) và bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1960; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Tiền sử: Tại bản án số: 252/2013/HSST ngày 24/12/2013, Tòa án nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 39 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy“. Tại bản án số 74/2014/HSST ngày 23/4/2014, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với 39 tháng tù của bản án số 252 ngày 24/12/2013 buộc T phải chấp hành 54 tháng tù (được trừ 03 tháng 24 ngày tạm giam và thời hạn thi hành án của Bản án số 252. T phải chấp hành 50 tháng 06 ngày tù tính từ ngày 31/01/2014). Ngày 07/8/2017 chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/11/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do là người nghiện chất ma túy nên chiều ngày 25/11/2020, Nguyễn Duy T ở tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc một mình đến khu công nghiệp Nam Phổ Yên, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên nhờ người tên T mua 1.400.000đ được 12 góinhỏ ma túy gói bằng bao bạc, đựng trong túi ni lông (đều là loại heroine). Khoảng 12 giờ ngày 26/11/2020, tại nhà T đã một mình sử dụng 01 gói nhỏ, số còn lại đúc tất cả trong lọ nhựa Xylytol và để ở đầu giường mục đích sử dụng cho bản thân. Khoảng 16 giờ ngày 27/11/2020, T đang nằm ở giường thì có lực lượng Công an huyện Sông Lô đến kiểm tra hành chính nên T đã cầm số ma túy bỏ chạy ra đến sân thì bị bắt giữ và lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ 11 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng được đựng trong lọ nhựa Xylytol (niêm phong trong bì thư ký hiệu A1).

Tại Kết luận giám định số 3023 ngày 30/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,9159g, loại heroine”.

* Vật chứng vụ án thu giữ: 0,9159g ma túy, loại heroine, Cơ quan giám định hoàn lại 0,8724g cùng toàn bộ bao gói; 01 lọ nhựa Xylytol.

Đối với người đàn ông tên T, do Tiến không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Duy T luôn thành khẩn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT - VKS ngày 09/3/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Nguyễn Duy T, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo T. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 18 (mười tám) tháng đến 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/11/2020). Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận. Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được sai phạm về hành vi đã thực hiện và xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do là người nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng nên ngày 25/11/2020, Nguyễn Duy T mua 12 gói ma túy loại heroine về đã sử dụng 01 gói, còn lại 11 gói có khối lượng 0,9159g cất giấu tại nhà thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc mục đích để một mình bị cáo sử dụng dần. Khoảng 16 giờ ngày 27/11/2020, Công an huyện Sông Lô phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Hội đồng xét xử khẳng định: Hành vi nêu trên của Nguyễn Duy T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

…c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được những ảnh hưởng xấu của ma túy đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng xã hội nhưng do bị cáo là những người nghiện ma túy nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà sau khi được giáo dục cải tạo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn làm tệ nạn ma túy ngày càng lan rộng và phát triển mạnh hơn trong đời sống. Từ tệ nạn ma túy là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T là người nghiện ma túy lâu năm, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 0,8724 gam ma túy Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ và 01 lọ nhựa Xylytol không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông mà T nhờ mua ma túy có tên T, do T không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/11/2020).

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 0,8724 gam ma túy loại Heroine cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại sau giám định và 01 lọ nhựa Xylytol.

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sông Lô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000đ (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ