vanban.org

Bản án 09/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 ; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lưu Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 ; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 09/2021/HSST
Ngày: 11/3/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bích Liên

2. Bà Đàm Thị Thanh Mai

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thanh Hương, thư ký

Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia

phiên tòa: Ông Ngô Xuân Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 03 năm 2021 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2021 đối với:

1. Bị cáo: Họ và tên: Lưu Văn H, tên gọi khác: Không; sinh ngày

10/4/1994; Nơi sinh: Đ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm TY, xã HB, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lưu Văn N, đã chết, con bà: Vũ Thị M, sinh năm 1960; Vợ, con chưa có;

Tiền án: Tại bản án số 51/HSST ngày 23/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/4/2019;

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 19/9/2014 của Ủy ban nhân dân xã HB, huyện Đ, xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng đồ chơi nguy hiểm bị cấm”. Bị cáo đã nộp phat ngày 19/9/2014;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

2.1 Chị Lưu Thị K, sinh năm 1996; Trú tại: Tổ 11, phường CH, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

( Có mặt tại phiên tòa).

3. Người chứng kiến:

3.1 Ông Dương Quang T, sinh năm 1964; Trú tại: Xóm TL, xã VL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 45 phút ngày 15/12/2020, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã VL đang làm nhiệm vụ tại khu vực gần cầu KQ thuộc xóm KQ, xã VL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện một nam thanh niên đang dừng xe mô tô ở ven đường có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác T hành kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên là Lưu Văn H và tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên phải mình đang mặc ra 03 gói giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác(H khai là Heroine). Tổ công tác đã T hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và thu giữ vật chứng là 03 gói giấy bạc màu trắng nêu trên. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 20B1 – 879.98.

Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra T hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của H là 0,317 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, ký hiệu: A1.

Tại Bản kết luận giám định số 21/KL-KTHS ngày 23/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại: Heroine; có khối lượng là 0,317 gam.

Quá trình điều tra, Lưu Văn H khai nhận H nghiện chất ma túy từ năm 2016 đến nay. Khoảng 08 giờ ngày 15/12/2020, H một mình điều khiển xe mô tô từ nhà mình đến xóm KQ, xã VL, huyện Đ để tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, H gặp 01 người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên, địa chỉ đang dừng xe ở ven đường. H hỏi người đàn ông này “anh có Heroine không, để cho em 300.000 đồng?”. Người đàn ông đồng ý và nhận của H 300.000 đồng rồi đưa lại cho H 03 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng. H cầm 03 gói Heroine cất giấu vào trong túi áo mình đang mặc rồi quay về. Khi đến khu vực gần cầu KQ, thuộc xóm KQ, xã VL, huyện Đ, H dừng xe lại để sử dụng Heroine nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng vụ án gồm: - 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, ký hiệu: LK và A1. Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, BKS: 20B1 – 879.98 Quá trình điều tra, xác minh xác định chiếc xe trên là của chị Lưu Thị K, sinh năm 1996; Trú tại: Tổ 11, phường CH, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên là em gái của bị cáo) không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị K quản lý, sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSĐH, ngày 26/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lưu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,

- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 và LK.

- Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn Hiếu từ 30 đến 36 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 và LK.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 20B1 – 879.98 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả chị Lưu Thị K là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.

- Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lưu Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và phù hợp với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào hồi 08 giờ 45 phút ngày 15/12/2020, tổ công tác Công an huyện Đ làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực xóm KQ, xã VL, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang Lưu Văn H đang có hành vi tàng trữ 0,317 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển ..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

...

c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội trộm cắp tài sản và là đối tượng nghiện chất ma túy.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại bản án số 51/HSST ngày 23/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, xử phạt bị cáo 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/4/2019 đến nay chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo cất giữ ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời, mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự : Tịch thu tiêu hủy:

- 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1 và LK (bên trong có chứa vỏ bì và số Heroine còn lại sau giám định).

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 20B1 – 879.98 Quá trình điều tra, xác minh xác định chiếc xe trên là của chị Lưu Thị K (là em gái của bị cáo), chị K không biết bị cáo dùng xe để đi mua ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị K là chủ sở hữu quản lý, sử dụng là phù hợp.

. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết, không rõ lai lịch, địa chỉ ở khu vực xóm KQ, xã VL, huyện Đ do không xác định được lai lịch địa chỉ của người đàn ông trên nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có đủ cơ sở để điều tra, làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 ; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn H 30( Ba mươi) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2020.

- Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Lưu Văn H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

*Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 và LK.

(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/01 /2021 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).

3. Án phí: Buộc bị cáo Lưu Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ