- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày 23-11-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị L Giang, Thư ký Tòa án nh n d n huy n Mộc Ch u, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nh n d n huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2021/TLST-HS ngày 05/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 05/2021/QĐXXST-HS ngày 12/11/2021 đối với:
Bị cáo: Bùi Minh D, sinh ngày: 04/9/1988 tại huy n M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn M, huy n M, tỉnh Sơn La; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Bùi Bá M và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Lưu Mỹ H, 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2021 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ ngày 11/10/2021, tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u làm nhi m vụ tại tiểu khu B, thị trấn M, huy n M tiến hành kiểm tra đối với Bùi Minh D đang đi bộ trên đường. Quá trình kiểm tra phát hi n D đang cất giấu trong người 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. D khai nhận đó là gói ma túy của D tàng trữ để sử dụng cho bản th n nghi n chất ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của Bùi Minh D, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải D về trụ sở cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u để điều tra, làm rõ.
Ngày 11/10/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Minh D có khối lượng 0,20 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, ký hi u D.
Tại Kết luận giám định số 1657 ngày 13/10/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam; loại Heroine.”
Quá trình điều tra, Bùi Minh D khai nhận: Bản th n nghi n chất ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 11/10/2021 D đi bộ từ nơi làm vi c tại Gara sửa chữa xe ô tô Đức Trọng, địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn M đến hướng xã Đ tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đi đến khu vực đường d n sinh Bó P p thuộc tiểu khu B, thị trấn M, D gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu trong túi quần bên phải rồi đi bộ về thì bị tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u kiểm tra, phát hi n, bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Minh D trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.
Cáo trạng số 188/CT-VKS ngày 05/11/2021 của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u truy tố bị can Bùi Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Minh D từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ Bùi Minh D, bắt ngày 11/10/2021, bên trong đựng mảnh giấy màu trắng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Bùi Minh D, bắt ngày 11/10/2021, kết quả: Dương tính.
3. Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Sau khi đại di n Vi n kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất tr với cáo trạng và đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nh n d n huy n Mộc Ch u, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Minh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u thu giữ của bị cáo vào ngày 11/10/2021 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng, mục đ ch sử dụng cho bản th n. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định vi c khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguy n và đúng với hành vi đã thực hi n.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguy n và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Minh D do tổ công tác Công an huy n Mộc Ch u lập vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 11/10/2021; biên bản niêm phong đồ vật, tài li u bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài li u bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 1657 ngày 13/10/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hi u D là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,20 gam; loại Heroine.”nằm trong danh mục I, số thứ tự 09 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Ch nh phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài li u, chứng cứ của cơ quan Điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Bùi Minh D là người có đủ năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức được tác hại của vi c tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghi n chất ma túy nên ngày 11/10/2021 bị cáo Bùi Minh D đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,20 gam Heroine nhằm mục đ ch sử dụng cho bản th n. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Bùi Minh D không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp x m phạm đến ch nh sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, g y ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nh n th n xấu, là đối tượng nghi n hút chất ma túy. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm tri u đồng) đến 500.000.000 đồng (Năm trăm tri u đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghi n ma túy, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ Bùi Minh D, bắt ngày 11/10/2021, bên trong đựng mảnh giấy màu trắng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Bùi Minh D, bắt ngày 11/10/2021, kết quả: Dương t nh. Xét thấy đ y là vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Minh D tại khu vực đường dân sinh khu vực Bó P p thuộc tiểu khu B, thị trấn M, huy n M, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Ch u không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, nên Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Bùi Minh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Minh D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo t nh từ ngày 11/10/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ Bùi Minh D, bắt ngày 11/10/2021, bên trong đựng mảnh giấy màu trắng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Bùi Minh D, bắt ngày 11/10/2021, kết quả: Dương t nh.
3. Về án ph : Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph Toà án. Buộc bị cáo Bùi Minh D phải chịu án ph hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Vi n KSND huy n Mộc Ch u; - Công an huy n Mộc Ch u; - Chi cục THADS huy n Mộc Ch u; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hi u lực); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Long Bình |