vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 15/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử Phạt: Bị cáo Phan Văn Q 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/3/2021). Giao bị cáo Phan Văn Q cho UBND xã T, huyện H, tỉnh K giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH K
Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày: 15/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đoạt

Ông Vũ Đức Kiểu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nam - Kiểm sát viên.

Từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 3 năm 2021. Tại trụ sở TAND huyện H, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST-HS ngày 22/02/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn Q - sinh năm: 1982 - Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh K.

Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh K.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 8/12;

Nghề nghiệp: Công nhân.

Họ và tên cha: Phan Văn S, sinh năm 1951.

Họ và tên m : Trần Thị T, sinh năm 1955.

Anh (chị) em ruột: Gồm 04 người, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1985, Bị cáo là người con thứ ba trong gia đình.

Vợ: Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1985 (Đã ly hôn).

Con: 02 đứa, sinh năm 2008 và 2012.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 26/6/2017 bị khởi tố về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, sau đó bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố, vụ án được đình chỉ. Bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/8/2020 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Vũ Phước C, sinh năm 1974 (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Vũ Phước L, sinh năm 1970 (Có mặt).

Nơi cư trú: ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.

Chỗ ở hiện nay: Số 395 đường Tô, phường V, thành phố R, tỉnh K.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1976 (Có mặt)

Nơi cư trú: Số 221 ấp V, xã V, huyện P, tỉnh B.

2/ Bà Phan Thị H, sinh năm 1985 (Có mặt).

Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh K

Người làm chứng: Ông Hồ Văn L, sinh năm 1974 (Có mặt).

Nơi cư trú: ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 07/6/2020 Phan Văn Q điều khiển xe ôtô con, loại xe 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát 61L - 1347 lưu thông trên Quốc lộ 80, hướng Rạch Giá đi Hà Tiên, khi đến đoạn Km số 141 + 500, thuộc tổ 10, ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K thì phát hiện phía trước có xe mô tô biển kiểm soát 68T8-1967 do ông Hồ Văn L (sinh năm 1974, ngụ tại ấp số 8, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất) điều khiển chở ông Vũ Phước C (sinh năm 1974, ngụ cùng ấp) đang lưu thông cùng chiều.

Lúc này, Q điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 61L – 1347 vượt xe mô tô do ông L điều khiển, trong lúc xe ô tô của Q đang vượt qua được khoảng ½ xe của ông L thì phát hiện có xe ôtô loại 16 chỗ (không xác định được biển kiểm soát) đang lưu thông theo hướng ngược lại, lúc này Q điều khiển xe vào phần đường bên phải theo hướng xe lưu thông, góc đầu xe phía trước, bên phải (ốp gò má phải) xe ô tô do Q điều khiển va chạm vào xe mô tô do ông L điều khiển, làm xe mô tô do ông L mất thăng bằng, đổ ngã ra mặt đường, văng về phía trước theo hướng xe lưu thông, Q điều khiển xe về phía trước khoảng 27 mét thì dừng lại.

Sau đó, Q chở ông L, ông C đến Trung tâm y tế huyện H để khám, điều trị. Ông L, ông C lấy thuốc rồi tự về nhà điều trị. Đến khoảng 16 giờ ngày 08/6/2020 ông Vũ Phước C có biểu hiện bị chấn thương sọ não, gia đình chuyển ông C đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh K để điều trị, đến ngày 14/6/2020 ông C tử vong.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 474/KL-KTHS ngày 14/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K đã kết luận đối với Vũ Phước C như sau:

1. Các kết quả chính:

- Toàn thân nạn nhân có nhiều vết sây sát da và bầm tụ máu rải rác.

- Tụ máu dưới da đầu vùng trán thái dương trái.

- Tụ máu dưới màng cứng bán cầu đại não phải.

- Tụ máu dưới màng nhện hai bán cầu đại não.

- Bệnh án ngoại khoa Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang kết luận nguyên nhân chính tử vong: Máu tụ dưới màng cứng bán cầu (P), khai do bị TNGT/xơ gan, nghiện rượu, thiếu máu mạn.

2. Nguyên nhân chết: Do chấn thương sọ não.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Bị cáo có các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục được hậu quả; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nh hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS-HĐ ngày 21/01/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo: Phan Văn Q về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền truy tố tại phiên tòa đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và xác định vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn Q mức án từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Văn Q và gia đình Vũ Phước C đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường trách nhiệm dân sự, với số tiền 110.000.000 đồng. Hiện nay, bị cáo đã bồi thường xong, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nên đề nghị Hội đồng miễn áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo Q.

Tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại có ý kiến: Bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 110.00.000 đồng, gia đình đã làm đơn bãi nại cho bị cáo. Xin Hội đồng xét xử xem xét xử mức án nh nhất cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị H có ý kiến: Tôi là người giao số tiền 110.000.000 đồng cho gia đình bị hại và hai bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên không có ý kiến gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết N có ý kiến: Tôi đã sang nhượng chiếc xe ô tô cho anh Q từ lâu, nên tôi không có ý kiến gì đối với chiếc xe này.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiêm hiện trường, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 07/6/2020, tại Km 141 + 500, thuộc ấp Số 8, xã S, huyện H, tỉnh K, Phan Văn Q điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 61L - 1347 va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 68T8-1967 do ông Hồ Văn L điều khiển, chở ông Vũ Phước C. Hậu quả, đến ngày 14/6/2020 Vũ Phước C tử vong. Do đó, hành vi của Phan Văn Q đã điều khiển xe ôtô vượt xe máy không đúng quy định gây tại nạn làm Vũ Phước C tử vong nên hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” vi phạm vào điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như kết luận của Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

X t t nh ch t, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội g y ra là nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù đây là lỗi vô ý vì quá cẩu thả, quá chủ quan cứ nghĩ rằng hậu quả s không xảy ra, do thiếu quan sát nên khi bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 61L – 1347 vượt xe mô tô do ông L điều khiển thì mới phát hiện có xe ôtô loại 16 chỗ đang lưu thông theo hướng ngược lại bị cáo đã xử lý không kịp, dẫn đến việc xe ôtô do bị cáo điều khiển va chạm vào xe mô tô do ông L điều khiển, làm xe mô tô do ông L mất thăng bằng, đỗ ngã ra mặt đường, văng về phía trước theo hướng xe lưu thông. Đáng l ra, bị cáo phải thận trọng khi quan sát nhưng bị cáo không làm thế và thực tế hậu quả xảy ra là nghiêm trọng gây ra tai nạn giao thông làm cho Vũ Phước C tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, mà nó còn xâm phạm đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần cho gia đình người bị hại, sự cẩu thả và không có ý thức pháp luật khi tham gia giao thông của bị cáo đã tạo nên sự đau thương, mất mát không gì bù đắp được đối với gia đình bị hại.

` [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo mới phạm tội lần đầu, tại phiên tòa bị cáo đã tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả đã xảy ra, khi gây tai nạn bị cáo tích cực đưa người bị hại đi cứu chữa và tận tình chăm lo khi bị hại nằm viện. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phải chăm sóc cha m già đau ốm bệnh tật, cha bị cáo đang hấp hối còn m bị cáo bị bệnh hiểm nghèo. Đây là những tình tiết giảm nh được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nh được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và các tình tiết giảm nh khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh thật sự khó khăn, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Bị cáo Q có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù cho hưởng án treo.

Về quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát: Về mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Phan Văn Q là chưa phù hợp với pháp luật, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

Về trách nhiệm d n sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường trách nhiệm dân sự đã xong. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án ph : Buộc bị cáo phải chịu án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử Phạt: Bị cáo Phan Văn Q 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/3/2021).

Giao bị cáo Phan Văn Q cho UBND xã T, huyện H, tỉnh K giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về phần trách nhiệm d n sự: Bị cáo Phan Văn Q và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án ph : Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ