vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 20/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trang Hoàng T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Trang Hoàng T 20.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 670.000 đồng số tiền dùng vào việc đánh bạc tại biên lai thu tiền số 0000098 ngày 15/12/2020 của chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Đánh Bạc đối với bị cáo Trang Hoàng T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trang Hoàng T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Trang Hoàng T 20.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 20/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bé

Bà Đinh Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Quyên – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo: Trang Hoàng T, sinh năm 1984 tại huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú ấp Lê Văn Q, xã Tập Ng, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trang Hoàng T, sinh năm 1953 và bà Trần Thị L, sinh năm 1956; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 31/10/2019 bị Công an huyện Tiểu C ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, với số tiền 1.500.000 đồng, nộp phạt ngày 04/11/2019; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp Lê Văn Q, xã Tập Ng, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V (có mặt)

2. Anh Bùi Đình Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp Lê Văn Q, xã Tập Ng, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V (có mặt)

3. Ông Bùi Văn B, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp Lê Văn Q, xã Tập Ng, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V (có mặt)

4. Anh Nguyễn Quốc C, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp Lê Văn Q, xã Tập Ng, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V (có mặt)

5. Anh Nguyễn Trí H, sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp Ngãi Ph, xã Ngãi H, huyện Tiểu C, tỉnh Trà V (vắng mặt không có lý do)

6. Anh Võ Công T, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp Cây D, xã Thanh M, huyện Châu Th, tỉnh Trà V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/7/2020 tại quán nước của Nguyễn Văn G (B), có mặt Nguyễn Văn G, Nguyễn Trí H, Bùi Đình Đ và nhiều người khác đang uống nước tại quán. Khi đó, G, H và Đ rủ nhau chơi đánh bạc, với hình thức lắc tài, xỉu, được thua bằng tiền thì G, H và Đ đồng ý. Khi đó, Giào vào trong quán lấy 01 (một) bộ tài, xỉu, rồi cùng H, Đ và một số người uống nước tại quán đến phía sau nhà riêng của G, G lấy 01 (một) cái chiếu có sẳn và sử dụng 01 (một) vỏ bao thuốc lá, hiệu Jet, màu trắng để giữa chiếu bạc nhằm phân ranh bên tay phải nhà cái là tài, bên tay trái nhà cái là xỉu. Khi tiến hành chơi đánh bạc, G làm cái, quy ước số tiền đặt cược thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng. Khi G làm cái được một lúc thì có bị cáo Trang Hoàng T, Nguyễn Quốc C và Võ Công T đến và tham gia đặt cược. Bị cáo tham gia 02 ván đều thua hết số tiền 30.000 đồng nên bị cáo nghỉ chơi và đi về nhà.

Sau khi làm cái được khoảng 07 ván thì G có công chuyện nên kêu H làm cái nhưng không có ai đặt cược. Đến khoảng 15 phút sau, G quay lại làm cái, tham gia đặt cược có H, Đ, C, B và một số người khác chơi đánh bạc, riêng T chỉ đứng xem. Khi chơi đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an xã Tập N kiểm tra, bắt quả tang G, H, B và T tại chiếu bạc, còn những người khác bỏ chạy.

Qua làm việc với G, H, B và T khai có bị cáo Trang Hoàng T, Đ, C và một số người khác (không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể) tham gia đánh bạc, với hình thức lắc tài, xỉu, được thua bằng tiền.

Trong khoảng thời gian từ khoảng 11 giờ 30 phút đến khoảng 13 giờ 15 phút ngày 17/7/2020 bị cáo Trang Hoàng T và các đối tượng tham gia đánh bạc, với tổng số tiền đánh bạc là 810.000 đồng (Trong đó: Bị cáo sử dụng số tiền 30.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 30.000 đồng; Nguyễn Văn G sử dụng số tiền 270.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 180.000 đồng; Nguyễn Trí H sử dụng số tiền 20.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 20.000 đồng; Bùi Đình Đ sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 120.000 đồng; Bùi Văn B sử dụng số tiền 120.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 20.000 đồng; Nguyễn Quốc C sử dụng số tiền 160.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 20.000 đồng; Võ Công T sử dụng số tiền 10.000 đồng để đánh bạc, kết quả thua 10.000 đồng.

Vật chứng đồ vật, tài liệu thu giữ gồm:

Thu giữ trên chiếu bạc 01 (một) bộ tài xỉu gồm 01 cái đĩa sứ loại nhỏ, 01 nắp nhựa, 03 hột xí ngầu và tiền Việt Nam là 670.000 đồng.

Thu giữ trên người các đối tượng số tiền 4.120.000 đồng (Trong đó: Thu giữ của Nguyễn Văn G số tiền 500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen; của Nguyễn Trí H số tiền 1.900.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 6, màu vàng; của Bùi Văn B số tiền 1.100.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen; của Võ Công T số tiền 620.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia 6300, màu vàng).

Ngoài ra, trong quá trình xác minh, điều tra Nguyễn Văn G giao nộp 01 (một) cái chiếu; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, hiệu Jet, màu trắng; Bùi Đình Đ giao nộp số tiền 80.000 đồng; Nguyễn Quốc C giao nộp số tiền 140.000 đồng dùng để đánh bạc

Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Trang Hoàng T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với bị cáo như sau:

Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Trang Hoàng T phạm tội đánh bạc và xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng

Đối với các đối tượng Nguyễn Văn G; Nguyễn Trí H; Bùi Đình Đ; Bùi Văn B; Nguyễn Quốc C và Võ Công T chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc nên Công an huyện Tiểu Cần ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người với số tiền 1.500.000 đồng, riêng Nguyễn Văn G bị Ủy ban nhân dân huyện Tiểu Cần ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 9.000.000 đồng, theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Đồng thời, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 80.000 đồng của Bùi Đình Đ; số tiền 100.000 đồng của Bùi Văn B; số tiền 140.000 đồng của Nguyễn Quốc C dùng vào việc đánh bạc nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 670.000 đồng số tiền dùng vào việc đánh bạc

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái chiếu; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, hiệu Jet, màu trắng; 01 (một) bộ tài xỉu gồm 01 cái đĩa sứ loại nhỏ, 01 nắp nhựa và 03 hột xí ngầu.

Đối với số tiền 4.120.000 đồng (Trong đó: của Nguyễn Văn G số tiền 500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen; của Nguyễn Trí H số tiền 1.900.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 6, màu vàng; của Bùi Văn B số tiền 1.100.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen; của Võ Công T số tiền 620.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia 6300, màu vàng), cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần đã ra quyết định trả lại cho anh G, anh H, anh B, anh T đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/7/2020 tại quán nước của anh Nguyễn Văn G bị cáo Trang Hoàng T cùng một số đối tượng khác tham gia đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu, với số tiền đánh bạc là 810.000 đồng không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T về tội đánh bạc, tuy nhiên vào ngày 31/10/2019 bị cáo bị Công an huyện Tiểu C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng (nộp phạt ngày 04/11/2019) chưa được xóa việc xử phạt hành chính, đến ngày 17/7/2020 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi đánh bạc của bị cáo Trang Hoàng T vào ngày 17/7/2020 đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần truy tố bị cáo Trang Hoàng T về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, bị cáo lợi dụng vào hình thức cờ bạc để sát phạt lẫn nhau, nhằm chiếm đoạt tài sản, tiền bạc của nhau, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nghiêm trọng khác như: trộm cắp, cướp tài sản người khác, cố ý gây thương tích, đôi khi làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, đặc biệt là làm mất an ninh trật tự địa phương… Xét thấy, đánh bạc là một tệ nạn xã hội, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hiện nay hành vi này đã xảy ra và lang rộng ở nhiều nơi, diễn biến ngày càng phức tạp. Do đó, để giữ gìn trật tự công cộng, đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản công dân cần phải kịp thời xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo riêng bị cáo đồng thời góp phần vào việc phòng chống tội phạm nói chung.

. Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tuy nhiên với hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết phải xử phạt tù mà chỉ cần xử phạt bị cáo một khoản tiền nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

. Về xử lý vật chứng: Như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

. Đối với các đối tượng Nguyễn Văn G; Nguyễn Trí H; Bùi Đình Đ; Bùi Văn B; Nguyễn Quốc C và Võ Công T chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc nên Công an huyện Tiểu Cần ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người với số tiền 1.500.000 đồng, riêng Nguyễn Văn G bị Ủy ban nhân dân huyện Tiểu Cần ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, với số tiền 9.000.000 đồng, theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Đồng thời, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 80.000 đồng của Bùi Đình Đ; số tiền 100.000 đồng của Bùi Văn B; số tiền 140.000 đồng của Nguyễn Quốc C dùng vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trang Hoàng T phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Trang Hoàng T 20.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 670.000 đồng số tiền dùng vào việc đánh bạc tại biên lai thu tiền số 0000098 ngày 15/12/2020 của chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái chiếu; 01 (một) vỏ bao thuốc lá, hiệu Jet, màu trắng; 01 (một) bộ tài xỉu gồm 01 cái đĩa sứ loại nhỏ, 01 nắp nhựa và 03 hột xí ngầu.

Đối với số tiền 4.120.000 đồng (Trong đó: của Nguyễn Văn G số tiền 500.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen; của Nguyễn Trí H số tiền 1.900.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone 6, màu vàng; của Bùi Văn B số tiền 1.100.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen; của Võ Công T số tiền 620.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia 6300, màu vàng), cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu C đã ra quyết định trả lại cho anh G, anh h, anh B, anh T đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200. 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Riêng anh Nguyễn Trí H vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi đương sự cư trú để xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 , 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Trà Vinh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;

- VKSND huyện Tiểu Cần;

- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần;

- Chi cục THADS huyện Tiểu Cần;

- Nhà tạm giữ Công an huyện Tiểu Cần;

- UBND xã Tập Ngãi;

- Bị cáo;

Thạch Thị Thu Hiền

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Trà Vinh;

- Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Tiểu Cần;

- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần;

- Chi cục THADS huyện Tiểu Cần;

- Nhà tạm giữ Công an huyện Tiểu Cần;

- UBND xã Tập Ngãi;

- Bị cáo;

- Các đương sự;

Thạch Thị Thu Hiền

- Lưu hồ sơ vụ án. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy

định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án

nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là

người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ