- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vu khống - phạm tội vu khống (điều 156 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Đinh Thị Bích H phạm tội “Vu khống”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 156 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày 08/4/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Bích Phi, bà Lê Thị Bích Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Đinh Thị Bích H; sinh ngày 15/01/1992 tại Phú Ninh, Quảng Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn K, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tiến L và bà Châu Thị L; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Thị Bích H và chị Nguyễn Thị Thu H là đồng nghiệp cùng làm việc tại Công ty bất động sản Kim Phong Land, địa chỉ 30 Nguyễn Hữu Thọ, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình làm việc, hai bên xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 22 giờ 00 ngày 31/01/2020, khi đang ở nhà tại thôn K, xã T, huyện P; Đinh Thị Bích H nảy sinh ý định bịa đặt thông tin giả đăng tải trên mạng xã hội nhằm xúc phạm Nguyễn Thị Thu H. Bích Hiền sử dụng điện thoại Samsung S7 tạo tài khoản mạng xã hội Zalo mang tên “Hiền Nguyễn” bằng số điện thoại 0775570181 và sử dụng hình ảnh cá nhân của chị Nguyễn Thị Thu H làm ảnh đại diện cho tài khoản “H Nguyễn” nhằm mục đích giả mạo chị Thu H. Sau đó Bích H dùng tài khoản zalo “H Nguyễn” tạo cuộc nói chuyện giả mạo nhắn tin đến tài khoản zalo của mình là “Bích H” (số điện thoại đăng ký zalo là 0935882133) đăng tải bài viết với nội dung vu khống chị Nguyễn Thị Thu H có mối quan hệ nam nữ không lành mạnh với người đã có gia đình. Đăng tải kèm bài viết là hình ảnh cá nhân của Nguyễn Thị Thu H và hình ảnh cuộc nói chuyện bằng tin nhắn giả mạo. Sau đó Bích H sử dụng điện thoại Iphone 8 Plus chụp ảnh màn hình cuộc nói chuyện trên và tài khoản zalo của chị Nguyễn Thị Thu H cùng các bài viết chị Thu H đăng trên trang cá nhân.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/02/2020, Bích H sử dụng điện thoại Samsung S7 tạo tài khoản mạng xã hội Facebook mang tên “Thu Phuong”. Sau đó Bích H sử dụng tài khoản “Thu Phuong” đăng tải lên 03 nhóm trên Facebook là: “Hội mua bán bất động sản Đà Nẵng”, “Mua bán bất động sản”, “Bất động sản Đà Nẵng” với nội dung bịa đặt chị Nguyễn Thị Thu H có mối quan hệ nam nữ không lành mạnh với người đã có gia đình và kêu gọi mọi người chia sẽ. Đăng tải kèm bài viết là hình ảnh cá nhân của Nguyễn Thị Thu H và hình ảnh cuộc nói chuyện bằng tin nhắn giả mạo. Đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, do lo sợ sự việc gây hậu quả nghiêm trọng nên Bích H đã xóa hết các bài viết đã đăng tải.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7.
Đối với điện thoại Iphone 8 Plus, bị cáo khai nhận do điện thoại hư nên bị cáo đã vứt bỏ; trong quá trình điều tra không thu giữ được nên không có cơ sở xử lý.
Về dân sự:
Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Thu H yêu cầu đền bù bồi thường thiệt hại do bị xâm hại nhân phẩm, uy tín, danh dự tổng số tiền là 30.000.000đ, gồm: thu nhập thực tế bị mất do bị nghỉ việc là 15.000.000đ; tổn thất về tinh thần là 15.000.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận chỉ bồi thường tổn thất tinh thần là 15.000.000 đồng.
Yêu cầu Đinh Thị Bích H đăng thông tin đính chính và công khai xin lỗi chị Nguyễn Thị Thu H trên 01 (một) số báo của 03 (ba) tờ báo: báo Công an thành phố Đà Nẵng, báo Quảng Nam và báo Nhân dân trên cả hai hình thức báo giấy và báo điện tử. Yêu cầu bị cáo Đinh Thị Bích H đăng thông tin đính chính và xin lỗi trên trang mạng xã hội Facebook, Zalo bằng tài khoản thật của Đinh Thị Bích H.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSQN ngày 08 tháng 02 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Đinh Thị Bích H về tội “Vu khống” theo điểm e khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 156, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích H từ 12-15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24-30 tháng.
Về dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 592 của Bộ luật dân sự ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Bị cáo Đinh Thị Bích H bồi thường tổn thất tinh thần cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 15.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được 6.000.000 đồng, bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 9.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7.
Người bào chữa cho bị cáo có luận cứ bào chữa: Luật sư Ông Quốc C thống nhất với toàn bộ quan điểm của viện kiểm sát. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/02/2020, bị cáo Đinh Thị Bích H sử dụng điện thoại Samsung S7 tạo tài khoản mạng xã hội Facebook mang tên “Thu Phuong” qua số điện thoại 0775570181. Sau đó bị cáo sử dụng tài khoản này đăng tải bài viết lên 03 (ba) nhóm trên mạng xã hội Facebook là: “Hội mua bán bất động sản Đà Nẵng”, “Mua bán bất động sản”, “Bất động sản Đà Nẵng” với nội dung bịa đặt chị Nguyễn Thị Thu H có mối quan hệ nam nữ không lành mạnh với người đã có gia đình và kêu gọi mọi người chia sẽ, nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của chị Nguyễn Thị Thu H. Bài viết vu khống sau khi đăng tải trên mạng xã hội, đã được nhiều người bình luận, chia sẽ và gọi đến số điện thoại của chị Nguyễn Thị Thu H đăng tải kèm bài viết để làm quen, gạ gẫm làm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chị Nguyễn Thị Thu H.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố cũng như phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi đã nêu ở trên của bị cáo Đinh Thị Bích H phạm tội “Vu khống” theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Đinh Thị Bích H về tội “Vu khống” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 156 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo có đủ khả năng nhận thức hành vi vu khống người khác là trái pháp luật nhưng vì để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác mà còn gây ra các hệ lụy khác khi được lan truyền trên các phương tiện mạng xã hội như facebook, Zalo...Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo là phụ nữ chưa có chồng, là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước.
Xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Xét luận cứ của người bào chữa cho bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Xét thấy luận cứ bào chữa của luật sư là phù hợp, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Về dân sự: Bị hại đã rút lại yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất do bị nghỉ việc là 15.000.000 đồng nên không xem xét giải quyết. Bị cáo và bị hại thỏa thuận bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Xét thấy, thỏa thuận bồi thường của bị cáo và bị hại là tự nguyện, đúng pháp luật nên công nhận sự thỏa thuận của họ. Bị hại yêu cầu bị cáo công khai xin lỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Xét thấy, hành vi của bị cáo đã bị xử lý hình sự nên không đồng thời buộc công khai xin lỗi theo thủ tục tố tụng khởi kiện vụ án dân sự. Hơn nữa, hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 156 Bộ luật hình sự cũng không quy định việc công khai xin lỗi. Vì vậy, không có cơ sở xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với điện thoại Iphone 8 Plus là công cụ, phương tiện phạm tội, nhưng trong quá trình điều tra không thu giữ được nên không có cơ sở xem xét xử lý.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7 là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 và 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo: Đinh Thị Bích H phạm tội “Vu khống”.
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 156, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án (Ngày 08/4/2021).
Giao bị cáo Đinh Thị Bích H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 584, 585, 592 Bộ luật dân sự:
Công nhận sự thoả thuận của bị cáo và bị hại về việc bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cụ thể như sau:
Bị cáo Đinh Thị Bích H thỏa thuận có nghĩa vụ bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), bị cáo đã bồi thường được 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo biên lai thu số 002677 lập ngày 19/02/2021. Bị cáo Đinh Thị Bích H tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7, màu xanh (Đã qua sử dụng).
(Vật chứng nói trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/3/2021).
Bị cáo Đinh Thị Bích H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 (Bốn trăm năm mươi nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/4/2021) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm .
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Phú Ninh; - Công an huyện Phú Ninh; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Phú Ninh; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ, án văn, thi hành án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Trung Thành THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |