- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày: 23-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình và ông Nguyễn Văn Thẩm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 23/3/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2021/TLST-HS ngày 08/02/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2021/QĐXXST-HS ngày 10/3/2021, đối với bị cáo:
- PHẠM VĂN THỊNH, sinh năm 1970 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn D, xã T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị S; vợ là Nguyễn Thị S1; bị cáo có hai con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 86 ngày 01/3/2005 của Công an thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 500.000đ về hành vi đánh bạc (đã chấp hành); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2020 đến ngày 29/12/2020 chuyển tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn B sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Ngọc S sinh năm 1977, địa chỉ: Thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T là người nghiện ma túy. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 27/12/2020 T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 34P8-1358 của anh Nguyễn Văn B đi từ nhà ở xã T, thành phố Hải Dương đến thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương (không rõ địa điểm cụ thể) để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T mua được một gói ma túy bọc giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai nhận là ma túy) với giá 100.000đ của người tên là S (T tự khai) và điều khiển xe mô tô đi về, đến khoảng 7 giờ 50 phút ngày 27/12/2020 khi T đi đến địa phận khu 5, thị trấn Thanh Hà thì bị cơ quan công an phát hiện, bắt giữ. Thu giữ tại lòng bàn tay trái một gói giấy màu trắng, kích thước 01cm x 02cm bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng.
Tại Kết luận giám định số 55/KLGĐ-PC09 ngày 28/12/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng niêm phong trong phong bì, ghi thu của T gửi đến giám định có trọng lượng là 0,159gram là Heroin.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 08/02/2021 VKSND huyện Thanh Hà truy tố Phạm Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà là đúng và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy được hoàn lại sau giám định; bi ̣ cáo phải chi ̣u 200.000đ án phi hí ̀nh sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về chứng cứ xác định bị cáo Phạm Văn T có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác trong vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 27/12/2020 tại địa phận khu 5, thị trấn Thanh Hà, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương - Phạm Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,159 gram ma túy là Heroin, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện, bắt giữ.
Xét bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép 0,159 gram ma túy là Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của VKSND huyện Thành Hà đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xác định bị cáo T là người có nhân thân xấu đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do thu nhập không đáng kể, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với một phong bì thư dán kín niêm phong do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau khi đã giám định bên trong có chứa chất ma túy. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo T phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
Về các vấn đề khác: Đối với người thanh niên tên S là người bán ma túy cho bị cáo; quá trình giải quyết vụ án chưa làm rõ được tên tuổi địa chỉ cụ thể, nên tiếp tục xác minh, xử lý sau. Đối với anh B là người cho bị cáo mượn xe mô tô biển kiểm soát 34P8-1358; quá trình giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh Bằng là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,136 gram ma túy là Heroin đựng trong một bì thư dán kín niêm phong vật chứng số 55/KLGĐ-PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại sau giám định.
Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà ghi ngày 30/12/2020.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bi ̣ cáo T phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bi ̣ cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan được quyền kháng cáo nô ̣i dung có liên quan trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện Thanh Hà; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Công an huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Bị cáo và ngườ i có QLNV liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuân |