vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đông, TP. Huế Tuyên án 10/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh Nh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Hồ Thanh Nh 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hồ Thanh Nh cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với gia đình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Thanh Nh - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh Nh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Hồ Thanh Nh 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÔNG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 10 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thược.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Huy và ông Vương Văn Vui.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Thúc Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Hồ Thanh Nh, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1979 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn 2, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Cơ tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Nh1, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị Nh2, sinh năm: 1964; có vợ là Trần Thị H, sinh năm: 1982 và 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02 tháng 4 năm 2021 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Cao Th, sinh năm: 1959; trú tại: Thôn 11, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Cao Th: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm: 1961; Anh Cao Văn B, sinh năm: 1984; Chị Cao Thị Thu Th1, sinh năm: 1985; Chị Cao Thị Mỹ Tr, sinh năm: 1988; Anh Cao Văn B1, sinh năm: 1990; Anh Cao Văn V, sinh năm: 1994; Chị Cao Thị Mỹ Ph, sinh năm: 1996; Chị Cao Thị Mỹ S, sinh năm: 1998; Chị Cao Thị Mỹ H, sinh năm: 2001; Đều trú tại: Thôn 11, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế (là vợ và các con của bị hại). Anh B, chị Th1, chị Tr, anh B2, chị Ph, chị Sg, chị H (đã ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Nguyễn Thị A). Bà Nguyễn Thị A, có mặt; anh Cao Văn V, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Thu Ng, sinh năm: 1993; Trú tại: Thôn 11, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1965; Trú tại: Thôn Hiền Hòa 1, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

Anh Nguyễn Ngọc Sửu, sinh năm: 1985; Trú tại: Xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/11/2020, Hồ Thanh Nh, có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 75M1-018.xx chạy theo hướng từ thị trấn Khe Tre đi xã Hương Hữu. Khi đến Km26+300 tỉnh lộ 14B là khu vực giao nhau giữa đường tỉnh lộ 14B và đường liên xã Hương Xuân - Hương Sơn thuộc địa phận thôn 9, xã Hương Xuân, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, đoạn đường có biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên” và biển báo “Dành cho người đi bộ sang ngang”, thì Hồ Thanh Nh phát hiện xe mô tô BKS: 75K1-204.xx do ông Cao Th, sinh năm: 1959, trú tại: Thôn 11, xã H, huyện N, có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển theo hướng từ đường liên xã Hương Xuân - Hương Sơn đi ra thị trấn Khe Tre. Thấy vậy, Nh tiếp tục điều khiển xe mô tô chạy với tốc độ khoảng 30 - 40 km/h và đi về bên trái ra giữa vạch kẻ ngắt quãng màu vàng ở giữa đường tỉnh lộ 14B theo hướng đi của mình; cùng lúc này, xe mô tô của ông Cao Th đi đến gần vạch kẻ ngắt quãng màu vàng ở giữa đường tỉnh lộ 14B nên Nh không xử lý kịp đã tông vào xe mô tô BKS: 75K1-204.xx của ông Th điều khiển gây tai nạn. Hậu quả: Ông Cao Th bị thương cấp cứu tại bệnh viện Trung ương Huế đến ngày 02/12/2020 thì tử vong, 02 xe mô tô hư hỏng nhẹ.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường được xác định như sau:

Hướng khám nghiệm là hướng từ thị trấn Khe Tre đi xã Thượng Nhật. Chọn biển báo “Dành cho người đi bộ sang ngang” nằm bên phải hướng từ thị trấn Khe Tre đi xã Thượng Nhật, cạnh ngã ba, giao nhau với đường liên xã Hương Xuân - Hương Sơn và tỉnh lộ 14B làm mốc khám nghiệm.

Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường rải thảm nhựa rộng 06m 90cm, lòng đường có vạch kẻ sơn màu vàng không liền mạch, phân chia làn đường thành hai chiều riêng biệt; có ngã ba giao nhau với đường nhựa liên xã Hương Xuân - Hương Sơn; đoạn đường xảy ra tai nạn có gắn biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên” và biển báo “Dành cho người đi bộ sang ngang”.

Tại vị trí số 01 là xe mô tô BKS: 75M1-018.xx nằm nghiên bên trái trên mặt đường nhựa, phần nắm tay cầm lái bên trái của xe nằm kê lên lốc máy phía bên trái của xe mô tô BKS: 75K1-204.xx; Đầu xe chếch về hướng đường nhựa liên xã, đuôi xe chếch về hướng cửa hàng xăng dầu Ái Nguyên; Khoảng cách từ trục bánh xe trước cách mốc khám nghiệm là 14m 40cm, cách mép đường ngoài cùng bên trái là 03m 80cm; Trục bánh xe sau cách mốc khám nghiệm là 15m 30cm, cách mép đường ngoài cùng bên trái là 02m 90cm.

Tại vị trí số 02 trên mặt đường nhựa, ở giữa xe mô tô BKS: 75M1-018.xx và xe mô tô BKS: 75K1-204.xx là dấu vết cày, xước mặt đường dạng hình cung, kích thước 26 x 01cm; Điểm đầu hướng thị trấn Khe Tre, điểm cuối hướng xã Thượng Nhật; Điểm đầu và điểm cuối vết cày cách mép đường ngoài cùng bên trái lần lượt là 03m 10cm và 03m 01cm.

Tại vị trí số 03 là xe mô tô BKS: 75K1-204.xx nằm nghiên bên phải trên mặt đường nhựa; Đầu xe chếch về hướng cửa hàng xăng dầu Ái Nguyên, đuôi xe chếch về hướng đường nhựa liên xã; Khoảng cách từ trục bánh xe trước cách mốc khám nghiệm là 15m 01cm, cách mép đường ngoài cùng bên trái là 02m 60cm; Trục bánh xe sau cách mốc khám nghiệm là 14m, cách mép đường ngoài cùng bên trái là 03m 60cm.

Tại vị trí số 04 trên mặt đường nhựa cách mốc khám nghiệm 12m 33cm, cách trục bánh trước xe mô tô BKS: 75K1-204.xx là 03m 20cm, cách mép đường ngoài cùng bên trái 02m 10cm là vùng dấu vết màu nâu đỏ và áo mưa loại măng tô được xếp nhăn nhúm bên cạnh, có kích thước 01m 10cm x 53cm.

Tại vị trí số 05 trên mặt đường nhựa, sát lề đường bên trái là mũ bảo hiểm màu hồng, cách mốc khám nghiệm 09m 90cm, cách trục bánh trước xe mô tô BKS: 75K1-204.xx là 08m 40cm.

Tại vị trí số 06 trên mặt đường nhựa, nằm cạnh xe mô tô BKS: 75K1-204.xx là đôi dép xốp màu xanh, trong đó có một chiếc bị mắc kẹt dưới yếm bên phải của xe mô tô BKS: 75K1-204.xx.

Khoảng cách từ biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường ưu tiên” đến trục bánh sau xe mô tô BKS: 75K1-204.xx là 45m; Từ trục bánh sau xe mô tô BKS: 75M1-018.xx đến biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên” là 70m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

- Xe mô tô biển kiểm soát 75K1-204.xx: Mặt ngoài phía trước phần nhựa màu đen của gương chiếu hậu bên trái bị nứt, vỡ kích thước 08cm, trên bề mặt bám dính chất màu trắng kích thước 15cm x 0,4cm; Mép ngoài cùng phía ngoài tay cầm lái bên phải bị trầy xước, mài mòn lớp cao su bên ngoài kích thước 03cm x 02cm; Mép ngoài trục trước của xe, phía bên trái bị trấy xước kim loại, có kích thước 08cm x 0,3cm, chiều hướng từ ngoài vào trong, điểm cao nhất cách mặt đất 33cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 25cm; Phần yếm bên trái, phía dưới của xe bị nứt, vỡ kích thước 12cm x 07cm, chiều hướng từ ngoài vào trong, điểm cao nhất cách mặt đất 36cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 30cm; Gác để chân trước bên trái bị cong vênh về phía sau có kích thước 09cm x 05cm; Mép ngoài phanh chân phía bên phải bị trầy xước, mài mòn kim loại có kích thước 03cm x 01cm; Ốp thân xe bên trái bị nứt, vỡ, kích thước 10cm x 05cm, điểm cao nhất cách mặt đất 57cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 48cm và bám dính các chất màu đỏ (dạng nilon).

- Xe mô tô BKS: 75M1-018.xx: Ốp mặt nạ phía trên bên trái của xe (Mang xe) bị nứt, vỡ có kích thước 16cm x 06cm, điểm cao nhất cách mặt đất 78cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 72cm; Cung trước chắn bùn của bánh xe trước bị nứt, vỡ, trầy xước làm bong tróc lớp keo dán (dạng nilon) và lớp sơn bên ngoài có kích thước 23cm x 11cm có chiều hướng từ trước ra sau, điểm cáo nhất cách mặt đất 60cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 54cm; Mép ngoài bên trái vành nan hoa của trục lốp trước bị móp méo, biến dạng theo chiều hướng từ ngoài vào trong, kích thước 17cm x 3,5cm.

* Tại bản Kết luận giám định Pháp y về tử thi số: 707-GĐ ngày 31/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận nguyên nhân chết của ông Cao Th là do: Chấn thương sọ não không hồi phục.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 29/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nam Đông kết luận: Xe mô tô BKS: 75K1-204.xx bị thiệt hại trị giá là: 1.220.000 đồng; xe mô tô BKS: 75M1-018.xx bị thiệt hại trị giá là: 1.337.000 đồng.

* Vật chứng tạm giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ, xám, đen mang BKS: 75M1-018.xx, số máy: 5C61-093142, số khung: 107Y-093142 bị hư hỏng do tai nạn (không có chìa khóa xe); 01 Giấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001335 mang tên chủ xe Hồ Thanh Nh; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Thanh Nh; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Jupiter, màu sơn: Trắng, đen mang BKS: 75K1-204.xx, số khung: RLCJ1PB30EY064806, số máy: 1PB3064810.

Ngày 03/5/2021 cơ quan Điều tra Công an huyện Nam Đông ra Quyết định xử lý vật chứng số 02/QĐ-CQĐT đã trả lại chiếc xe mô tô mang BKS: 75K1-204.xx cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thu Ng.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hồ Thanh Nh đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại ông Cao Th số tiền 18.000.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền sửa chữa xe mô tô BKS: 75K1-204.xx. Các đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-NĐ ngày 29/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Hồ Thanh Nh về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Sau khi phân tích về tính chất và hậu quả của vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh Nh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

+ Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Hồ Thanh Nh từ 12 - 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

+ Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Hồ Thanh Nh gồm: 01 xe mô tô BKS: 75M1-018.xx bị hư hỏng do tai nạn; 01 Giấy đăng ký xe mô tô số 001335 mang tên Hồ Thanh Nh; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Thanh Nh.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Cao Th (đã chết) là bà Nguyễn Thị A và người có quyền lợi liên quan đến vụ án là chị Lê Thị Thu Ng cung cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Ngoài ra, gia đình và người đại diện hợp pháp của bị hại còn có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hồ Thanh Nh.

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi thực hiện như bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì, nhất trí với kết luận giám định, kết luận định giá tài sản của các cơ quan chuyên môn. Lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Nam Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Cao Văn V, người làm chứng. Trong quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng, đồng thời tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị xét xử vắng mặt anh Cao Văn V và người làm chứng. Xét thấy, sự vắng mặt của anh V và người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên căn cứ vào các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Thanh Nh: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại; người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 29/11/2020 tại Km26+300 tỉnh lộ 14B là khu vực giao nhau giữa đường tỉnh lộ 14B và đường liên xã Hương Xuân - Hương Sơn thuộc địa phận thôn 9, xã Hương Xuân, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, Hồ Thanh Nh, có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô BKS: 75M1-018.xx chạy theo hướng từ thị trấn Khe Tre đi xã Hương Hữu, khi đến đoạn đường có biển báo đường giao nhau nhưng không giảm tốc độ, không đi bên phải theo chiều đi của mình nên đã va chạm với xe mô tô BKS: 75K1-204.xx do ông Cao Th điều khiển gây tai nạn, hậu quả làm cho ông Cao Th bị thương cấp cứu tại bệnh viện Trung ương Huế đến ngày 02/12/2020 thì tử vong và làm thiệt hại tài sản có giá trị 1.220.000 đồng. Theo Kết luận giám định Pháp y về tử thi số: 707-GĐ ngày 31/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế, kết luận nguyên nhân chết của ông Cao Th do chấn thương sọ não không hồi phục.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) Làm chết người”

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo Hồ Thanh Nh điều khiển xe mô tô BKS: 75M1-018.xx không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức, nơi có biển cảnh báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên”, không tuân thủ các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ, đã vi phạm khoản 1 Điều 9, Điều 12 Luật giao thông đường bộ và các khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, trong vụ án này người bị hại là ông Cao Th cũng có lỗi khi điều khiển xe mô tô BKS: 75K1-204.xx không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức, nơi có biển cảnh báo nguy hiểm “Giao nhau với đường ưu tiên” và không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên là vi phạm Điều 12, khoản 3 Điều 24 luật Giao thông đường bộ và các khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

Điều 12 luật Giao thông đường bộ quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe.

Khoản 1 Điều 9 luật Giao thông đường bộ quy định: “1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Khoản 3 Điều 24 luật Giao thông đường bộ quy định:

“Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:

….

3. Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”.

Khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm; 3. Qua đường bộ giao nhau cùng mức.”

Hội đồng xét xử xét thấy, vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe mô tô BKS: 75M1-018.xx do bị cáo Hồ Thanh Nh điều khiển và xe mô tô BKS: 75K1-204.xx do ông Cao Th điều khiển là lỗi hỗn hợp nhưng lỗi chủ yếu là do bị cáo Hồ Thanh Nh. Bị cáo biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ nhưng không giảm tốc độ dẫn đến va chạm với bị hại Cao Th làm ông Th tử vong. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi vi phạm của mình gây ra. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản cho người khác, ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo về ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho mọi người.

Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 18.000.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền sửa chữa xe mô tô BKS: 75K1-204.xx; những người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo thuộc hộ nghèo, hơn nữa trong vụ án này bị hại cũng có lỗi. Ngoài ra, bị cáo không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Hồ Thanh Nh có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, phạm tội trong trường hợp bị hại cũng có lỗi. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự; giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục và ấn định một thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu về phòng, chống tội phạm trong cộng đồng.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Jupiter, màu sơn: Trắng-đen, mang BKS: 75K1-204.xx, số khung: RLCJ1PB30EY064806, số máy: 1PB3064810. Cơ quan Điều tra Công an huyện Nam Đông đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thu Ng, tại phiên tòa hôm nay chị Ng không có ý kiến hay khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ, xám, đen mang BKS: 75M1-018.xx, số máy: 5C61-093142, số khung: 107Y-093142 bị hư hỏng do tai nạn (không có chìa khóa xe); 01 Giấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001335 mang tên chủ xe Hồ Thanh Nh; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Thanh Nh là tài sản và giấy tờ hợp pháp của bị cáo Hồ Thanh Nh nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Thanh Nh phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo có căn cứ pháp luật cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh Nh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Hồ Thanh Nh 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hồ Thanh Nh cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với gia đình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Tuyên trả lại cho bị cáo Hồ Thanh Nh gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ, xám, đen mang BKS: 75M1-018.xx, số máy: 5C61-093142, số khung: 107Y-093142 bị hư hỏng do tai nạn (không có chìa khóa xe); 01 Giấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001335 mang tên chủ xe Hồ Thanh Nh; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Hồ Thanh Nh. (Tình trạng vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận giữa Công an huyện Nam Đông và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đông lập ngày 04/8/2021).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Hồ Thanh Nh phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ