vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng D 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2020. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Trọng Dũng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 02-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Vinh

2. Ông Ngô Thanh Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09A/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Hoàng Trọng D, sinh năm 1998. ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Làng H, xã Q, huyện C, tỉnh L;Tên gọi khác: Không có; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Hữu Ngàn, sinh năm 1970, con bà Hoàng Thị Mấn, sinh năm 1971; Gia đình có 02 chị em, bản thân là thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con.

- Nhân thân: Ngày 23/01/2018 Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng. Chấp hành xong ngày 24/4/2020.

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2020. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lạng Giang - (Có mặt tại phiên tòa).

* Người chứng kiến:

1. Ông Trần Hữu A, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ dân phố số 3, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - (Vắng mặt tại phiên tòa).

2. Chị Trần Thị L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ dân phố số 3, thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 25 phút ngày 15/12/2020, tại Trạm Công an thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, Công an huyện Lạng Giang tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Trọng D, sinh năm 1998 ở Thôn Làng H, xã Q, huyện C, tỉnh L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 đoạn ống nhựa màu xanh, hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được thu giữ ở trong lớp nilon bọc ngoài bao thuốc lá Thăng Long màu vàng để trong túi áo khoác bên trái phía ngoài D đang mặc “QT”.

- 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong không đựng gì, thu giữ tại túi áo khoác bên trái phía ngoài D đang mặc.

- Số tiền 392.000đ thu giữ tại túi quần phía sau bên trái D đang mặc

- 02 xi lanh nhựa loại 03ml/cc và 02 lọ nước cất Novocain đều chưa qua sử dụng, thu giữ tại túi quần bên phải phía trước D đang mặc.

- 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Trọng D, thu giữ tại túi áo khoác bên trái D đang mặc.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ máy màu hồng, số IMEI 1: 867609037219995, số IMEI 2: 867609037219987, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái D đang mặc.

Ngày 16/12/2020, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Trọng D nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại Bản kết luận giám định số 1800/KL-KTHS ngày 16 tháng 12 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 đoạn ống nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,108 gam, loại Heroine.”

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Trọng D khai nhận: Bản thân D là đối tượng nghiện ma túy heroine. Khoảng 10 giờ ngày 15/12/2020, D đi xe ô tô khách từ Hải Dương về thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Đến ngã tư thị trấn Kép, D xuống xe rồi đi bộ vào hiệu thuốc ở gần đó mua 03 xi lanh nhựa và 03 lọ nước cất để sử dụng ma túy. Sau đó, D đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết ra khu vực đường tàu. Tại đây, D đã gặp và đặt vấn đề mua của một đối tượng không quen biết 02 gói ma tuý Heroin với giá 200.000đ. Mua xong, người lái xe ôm chở D lên khu vực gần bãi rác thị trấn Kép để D sử dụng ma túy. D sử dụng hết 01 gói ma túy, gói ma túy còn lại D cất vào trong lớp nilon bọc ngoài bao thuốc lá Thăng Long rồi cất bao thuốc lá vào túi áo khoác bên trái D đang mặc để sử dụng sau. Sau đó, người lái xe ôm chở D quay lại ngã tư thị trấn Kép, D trả tiền cho người đó rồi đi bộ sang cửa hàng điện thoại gần đó để mua sim điện thoại thì bị Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang. Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 05/02/2021 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Hoàng Trọng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hoàng Trọng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa.

Ông Trần Hữu A, chị Trần Thị L là người chứng kiến của vụ án vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã trích đọc lời khai của những người này tại phiên tòa, bị cáo D không có ý kiến gì về lời khai của họ.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Trọng D từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 15/12/2020. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

- Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS xử lý về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu: “QT” có chữ ký của những người liên quan và đóng dấu của Công an thị trấn Kép và phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, bên trong là ma túy heroin hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong không chứa gì không còn giá trị sử dụng; 02 xilanh nhựa loại 3ml/cc và 02 lọ nước cất NOVOCAIN đều chưa qua sử dụng;

+ Trả lại cho bị cáo: 01 Chứng minh nhân dân số 082407530 mang tên Hoàng Trọng D; 01 điện thoại di động OPPO, vỏ máy màu hồng, mật khẩu màn hình 2308, số IMEI 1: 867609037219995, số IMEI 2: 867609037219987 và số tiền 392.000đồng nhưng tạm giữ số tiền 392.000đồng để đảm bảo thi hành án.

- Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 25 phút ngày 15/12/2020, tại Trạm Công an thị trấn Kép, huyện Lạng Giang; Công an huyện Lạng Giang tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Trọng D về hành vi tàng trữ trái phép 0,108 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước việc mua bán, tàng trữ, sử dụng các chất ma túy của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác. Nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo đã cố ý phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, chưa có tiền án, tiền sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ Nhà nước. Song xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa và để bị cáo yên tâm cải tạo thành người lương thiện có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang không có cơ sở để điều tra xử lý, HĐXX không xem xét;

Đối với người lái xe ôm chở bị cáo đi mua ma túy và đến chỗ sử dụng ma túy, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS xử lý về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu: “QT” có chữ ký của những người liên quan và đóng dấu của Công an thị trấn Kép và phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, bên trong là ma túy heroin hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong không chứa gì không còn giá trị sử dụng; 02 xilanh nhựa loại 3ml/cc và 02 lọ nước cất NOVOCAIN đều chưa qua sử dụng nhưng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;

+ Trả lại cho bị cáo: 01 Chứng minh nhân dân số 082407530 mang tên Hoàng Trọng D; 01 điện thoại di động OPPO, vỏ máy màu hồng, mật khẩu màn hình 2308, số IMEI 1: 867609037219995, số IMEI 2: 867609037219987 và số tiền 392.000đồng nhưng tạm giữ số tiền 392.000đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng D 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2020.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy dán kín niêm phong ký hiệu: “QT”, có dấu của Công an thị trấn Kép và dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, có chữ ký của Hoàng Xuân Phú, Tăng Hải Linh, Trần Thị L, Nghiêm Nam Khánh, Dương Quang Hải, Hoàng Trọng D, Trần Hữu A bên trong là ma túy heroin hoàn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong không chứa gì; 02 chiếc xi lanh nhựa loại 3ml/cc và 02 lọ nước cất NOVOCAIN đều chưa qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo: 01 Chứng minh nhân dân số 082407530 mang tên Hoàng Trọng D; 01 chiếc điện thoại di động OPPO, vỏ máy màu hồng, số imel 1: 867609037219995, số imel 2: 867609037219987 (imel trong máy không kiểm tra được do không bật được nguồn) và số tiền 392.000đồng được niêm phong trong 01 phong bì dán kín ký hiệu “Tiền thu giữ của Hoàng Trọng D” có chữ ký của những người liên quan và đóng dấu của Công an thị trấn Kép. Tạm giữ số tiền 392.000đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Trọng D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ