- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thế Hào - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HS-ST Ngày 19/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thức
Ông Bùi Thanh Nông
- Thư ký phiên tòa: Bà B i Thị H ng – Th ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi T t Th ng - Kiểm sát viên.
Ngày 19/3/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 04/2021/TLST-HS ngày 04/02/2021 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST-HS ngày 08/3/2021 đối với bị cáo:
BÙI TH H (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1999 tại K - Hòa Bình. N i c trú: Khu Lục Cả, thị tr n Bo, huyện K, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học v n): 10/12; dân tộc: M ờng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông B i Văn T và bà B i Thị N; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; Ch a có vợ, con;
Tiền án: không;
Tiền sự: có 02 tiền sự:
- Ngày 25/12/2018, bị Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-C ngày 12/11/2013 của Chính phủ, bằng hình thức phạt tiền (theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 138, ngày 08/5/2019), ch a nộp tiền phạt.
- Ngày 08/5/2019 có hành vi vi phạm hành chính cố ý gây th ng tích, bị Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 137, ngày 08/5/2019, ch a nộp tiền phạt.
Nhân thân:
- Ngày 18/9/2018 có hành vi sử dụng trái phép ch t ma t y, bị công an huyện K, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (Theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 226, ngày 18/9/2018), đã nộp tiền phạt.
Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam t ngày 20/11/2020 đến nay, đ ợc trích xu t có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà B i Thị N, sinh năm 1978 (có mặt)
N i c tr : Khu Lục Cả, thị tr n Bo, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
+ Anh Quách Đình T, sinh năm 1994 (v ng mặt, có đ n đề nghị xử v ng mặt)
N i c tr : Khu Lục Cả, Thị tr n Bo, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
Người làm chứng:
+ Bạch Bảo N, sinh năm 2003; (v ng mặt không có lý do)
N i c tr : Thôn V, thị tr n B, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
+ Quách Thị Th, sinh năm 2002; (v ng mặt không có lý do)
N i c tr : Thôn S, xã Th, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Nguyễn h ng Ninh, sinh năm 1986; (v ng mặt không có lý do)
N i c tr : Xóm S, xã V, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:
Khoảng 10 giờ 00 ph t ngày 20/11/2020 B i Thế H hỏi m ợn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ biển kiểm soát 28B1 – 247.64 của bà B i Thị N, sinh năm: 1978, tr tại: khu Lục Cả - Thị tr n Bo - K - Hòa Bình là mẹ của H để đi ch i. Sau đó H điều khiển xe đi lên thành phố Hòa Bình tìm mua ma t y. Khi đi đến khu vực cách ngã ba chân dốc Cun khoảng 200m (Hai trăm mét) thuộc địa ph n ph ờng Thái Bình – thành phố Hòa Bình – Hoà Bình, H gặp một ng ời đàn ông lạ mặt, không r tên, tu i, địa chỉ sau đó H đã hỏi và mua đ ợc ma tuý của ng ời này với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đ ợc 01 (Một) gói ni lông màu tr ng chứa ch t tinh thể màu tr ng và 01 (Một) viên nén màu xanh, khi mua đ ợc ma túy H c t gi u tại t i quần tr ớc bên trái đang mặc rồi điều khiển chiếc xe mô tô trên đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 30 ph t c ng ngày, H đi sinh nh t bạn tại khu Lục Cả - Thị tr n Bo - K - Hòa Bình c ng Quách Đình T, sinh năm: 1994, tr tại: khu Lục Cả - Thị tr n Bo - K - Hòa Bình. Đến khoảng 21 giờ 30 c ng ngày thì T rủ H đi hát Karaoke. H nói với T có hẹn bạn lên ch i thì đón c ng đi hát. Một l c sau, H và T đón Bạch Bảo N, Sn: 2003, tr tại: thôn Vôi – thị tr n Ba Hàng Đồi – Lạc Thu – Hoà Bình gọi H đi đón và Quách Thị Th, sinh năm: 2002, tr tại thôn S - Th – L– Hòa Bình. H chở N, T chở Th đi lên quán hát Karaoke “Ninh Hà” tại xóm S - V - K - Hòa Bình. H thuê đ ợc phòng hát số 01(Một) ở tầng hai rồi c ng T, N, Th hát và uống bia, đến khoảng 23 giờ 00 ph t c ng ngày thì T công tác Đội Cảnh sát điều tra về Hình sự - Kinh tế - Ma t y Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình kiểm tra phòng hát l c này H đã l y số ma tuý trong t i quần ra đặt xuống ghế rồi ngồi lên để che gi u nh ng đã bị lực l ợng Công an huyện phát hiện l p biên bản b t ng ời phạm tội quả tang, niêm phong v t chứng để điều tra.
Tại Kết lu n giám định số 343/KLGĐ - CAT - PC09 ngày 25/11/2020 của hòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, kết lu n:
“01 (Một) gói nilon màu tr ng bên trong chứa tinh thể màu tr ng, nghi là ch t ma t y và 01(Một) mảnh viên nén màu xanh nghi là ch t ma t y, thu giữ khi b t quả tang B i Thế H, sn: 1999, tr tại: Khu Lục Cả – Thị tr n Bo – K – Hòa Bình, ngày 20/11/2020 tại xóm Sống – V nh Đồng – K – Hòa Bình gửi giám định ch t tinh thể màu tr ng có khối l ợng là 0,99g (Không phẩy chín mươi chín gam), là ma t y loại Ketamine và 01 (Một) mảnh viên nén màu xanh có khối l ợng là 0,34g (Không phảy ba mươi tư gam), là ma t y, loại MDMA.”
Bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 02/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo B i Thế H về tội tàng trữ trái phép ch t ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo B i Thế H khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng, không kêu oan.
Ý kiến của những người tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập:
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
Bà B i Thị N (mẹ đẻ của bị cáo H) khai nh n chiếc xe Honda Vision, màu đỏ nâu, biển kiểm soát 28B1 – 247.64, số khung: 5818JY020481; số máy: JF66B1097007, xe không có cả hai g ng chiếu h u là xe bà Nguyệt cho B i Thế H m ợn. H đã diều khiển xe đi mua ma t y bà không biết, đã bị c quan điều tra thu giữ. Quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của bà Nguyệt nên đã trả cho bà. Bà Nguyệt đã nh n đ ợc tài sản nguyên trạng nh ban đầu, bà không có ý kiến đề nghị gì .
Anh Quách Đình T theo lời khai tại giai đoạn điều tra và đ n đề nghị xét xử v ng mặt tại phiên tòa đề ngày 09/3/2021gửi Tòa án đã xác nh n đã đ ợc nh n lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 28B1 – 295.34, số khung: 3913LY170468; số mày J 39E1507983 là xe của Quách Đình T sử dụng để đi hát Karaoke c ng B i Thế H vào ngày 20/11/2020, quá trình kiểm tra xe không phát hiện, thu giữ đồ v t gì liên quan đến vụ án. Anh T không có đề nghị gì về tài sản trên, xác nh n có làm chứng việc B i Thế H tàng trữ trái phép ch t ma t y.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 (Bị cáo có ông nội đ ợc tặng kỉ niệm ch ng vì chủ quyền an ninh biên giới vì đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới T quốc) Điều 51; Điều 38 của Bộ lu t hình sự: Tuyên bố bị cáo B i Thế H phạm tội tàng trữ trái phép ch t ma túy; Xử phạt bị cáo B i Thế H t 20 đến 24 tháng tù.
- Về hình phạt b sung: Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.
- Về v t chứng vụ án: Đề nghị
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín của hòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt ghi “M U GI M Đ NH M T Y”, ghi số thông báo kết lu n giám định: 343 ngày 25/11/2020; tên đối t ợng B i Thế H; mép dán có d u niêm phong của hòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có chứa mẫu v t ch t ma t y còn lại sau giám định (gồm ma t y Ketamin: 0,68g và 0,22g mẫu ma t y loại MDM c ng toàn bộ vỏ bao gói lại sau khi giám định theo biên bản đóng gói, niêm phong ngày 25/11/2020);
+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max cũ đã qua sử dụng, mặt tr ớc màu đen, mặt sau màu tr ng, có ốp nhựa màu xanh. Bên trong chứa sim số 033.5983.570;
+ Trả lại cho bị cáo số tiền 347.000 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) tiền Việt Nam gồm: 06 tờ mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); 01 (một) tờ mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 02 (Hai) tờ mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng); 01 (Một) tờ mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng); 01 (Một) tờ mệnh giá 2.000đ (Hai nghìn đồng) đ ợc đựng trong một phong bì niêm phong theo biên bản bàn giao, tiếp nh n tài sản để bảo quản số 21/2020/BBBG-THAKB ngày 02/12/2020.
Các ý kiến tranh luận: Bị cáo nh n tội và th y mức hình phạt đề nghị là đ ng nên không có ý kiến tranh lu n, những ng ời tham gia tố tụng không có ý kiến tranh lu n gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đ ợc h ởng sự khoan hồng của pháp lu t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định nh sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã đ ợc thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những ng ời tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng và ng ời có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nh n hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y của mình. Lời khai của bị cáo ph hợp với lời khai tại C quan điều tra, lời khai của ng ời làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. Hội đồng xét xử có đủ c sở kết lu n: Khoảng 10 giờ đến 23 giờ ngày 20/11/2020 B i Thế H đã có hành vi mua và tàng trữ trái phép 0,99gram (Không phẩy chín mươi chín gam) ma t y loại Ketamine và 0,34g (Không phẩy ba mươi tư gam) MDMA tại vị trí ghế ngồi của B i Thế H tại c sở kinh doanh karaoke “Ninh Hà” tại xóm Sống – V nh Đồng – K – Hòa Bình, nhằm mục đích để sử dụng cá nhân thì bị b t quả tang. Hành vi của bị cáo đã c u thành tội tàng trữ trái phép ch t ma t y. Bản cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t hình sự là có căn cứ, đ ng ng ời, đ ng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà n ớc về ma t y và các ch t gây nghiện, xâm phạm tr t tự an toàn xã hội ở địa ph ng. Bị cáo là ng ời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nh n thức đ ợc tác hại của ma t y, biết việc tàng trữ trái phép ch t ma t y bị pháp lu t nghiêm c m nh ng là ng ời nghiện ch t ma t y, để có ma t y sử dụng cho bản thân nên bị cáo đã phạm tội. Bị cáo đã mua ma t y mang theo trong ng ời, sau đó gi u ma túy vào ghế ngồi tại n i hát Karaoke nhằm tránh sự phát hiện của c quan chức năng. Do v y, cần có mức án t ng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ng a tội phạm chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo t 20 đến 24 tháng tù là có xem xét, đánh giá hết tính ch t mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân x u đã t ng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép ch t ma t y. Bị cáo ch a có tiền án nh ng có 02 tiền sự: Ngày 25/12/2018, bị Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-C ngày 12/11/2013 của Chính phủ, bằng hình thức phạt tiền (theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 138, ngày 08/5/2019), ch a nộp tiền phạt. Ngày 08/5/2019 có hành vi vi phạm hành chính cố ý gây th ng tích, bị Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 137, ngày 08/5/2019, ch a nộp tiền phạt.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông nội đ ợc tặng kỉ niệm ch ng vì chủ quyền an ninh biên giới vì đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới T quốc. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là ng ời nghiện ma t y, là lao động tự do thu nh p không n định. Do v y, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt b sung bằng tiền và các hình phạt b sung khác đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ lu t hình sự.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của hòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt ghi “M U GI M Đ NH M T Y”, ghi số thông báo kết lu n giám định: 343 ngày 25/11/2020; tên đối t ợng B i Thế H; mép dán có d u niêm phong của hòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có chứa mẫu v t ch t ma t y còn lại sau giám định (gồm ma t y Ketamin: 0,68g và 0,22g mẫu ma t y loại MDM c ng toàn bộ vỏ bao gói lại sau khi giám định theo biên bản đóng gói, niêm phong ngày 25/11/2020) là ch t c m l u thông do bị cáo tàng trữ trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 của Bộ lu t hình sự và Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max cũ đã qua sử dụng, mặt tr ớc màu đen, mặt sau màu tr ng, có ốp nhựa màu xanh. Bên trong chứa sim số 033.5983.570 còn giá trị sử dụng, là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.
- Số tiền 347.000 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) tiền Việt Nam gồm: 06 (Sáu) tờ mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); 01 (một) tờ mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 02 (Hai) tờ mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng); 01 (Một) tờ mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng); 01 (Một) tờ mệnh giá 2.000đ (Hai nghìn đồng) đ ợc đựng trong một phong bì niêm phong theo biên bản bàn giao, tiếp nh n tài sản để bảo quản số 21/2020/BBBG-THAKB ngày 02/12/2020 là tài sản hợp pháp do bị cáo lao động có đ ợc, cần trả lại cho bị cáo B i Thế H.
Về vấn đề khác:
Đối với chiếc xe Honda Vision, màu đỏ nâu, biển kiểm soát 28B1 – 24764, số khung: 5818JY020481; số máy: JF66B1097007, xe không có cả hai g ng chiếu h u là xe thuộc quyền sở hữu của bà B i Thị Nguyệt và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 28B1 – 295.34, số khung: 3913LY170468; số mày J 39E1507983 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Quách Đình T, quá trình điều tra và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa cho th y những tài sản này không thuộc quyền sở hữu của bị cáo cũng nh chủ sở hữu không có l i hoặc không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đã đ ợc trả lại cho bà B i Thị Nguyệt và anh Quách Đình T là đ ng quy định của pháp lu t. Ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
Đối với Quách Đình T, Bạch Bảo N, Quách Thị Th c ng có mặt tại phòng hát n i xảy ra hành vi phạm tội tàng trữ trái phép ch t ma t y của B i Thế H, quá trình điều tra đã xác định không liên quan đến số ma t y mà H tàng trữ, do đó không đề c p xử lý.
Đối với c sở kinh doanh Karaoke Ninh Hà, trong quá trình phát hiện đối t ợng thuê phòng hát có biểu hiện nghi v n đã kịp thời thông báo cho Công an huyện K – Hòa Bình đến kiểm tra, phát hiện, xử lý. Chủ c sở xuâts trình đầy đủ các gi y tờ đăng ký kinh doanh dịch vụ, do v y không đề c p xử lý.
Đối với đối t ợng đã cung c p ma t y cho bị cáo ngày 20/11/2020 quá trình điều tra, C quan cảnh sát điều tra Công an huyện K ch a xác định đ ợc đối t ợng nh đặc điểm mô tả nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về án phí: Bị cáo là ng ời bị kết án nên phải chịu án phí hình sự s thẩm theo quy định của pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
QUY T ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ lu t hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo B i Thế H phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo B i Thế H 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn t tính t ngày tạm giữ, tạm giam 20/11/2020.
3. Về v t chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t hình sự và Điều 106 của Bộ lu t tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của hòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt ghi “M U GI M Đ NH M T Y”, ghi số thông báo kết lu n giám định: 343 ngày 25/11/2020; tên đối t ợng B i Thế H; mép dán có d u niêm phong của hòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, bên trong có chứa mẫu v t ch t ma t y còn lại sau giám định (gồm ma t y Ketamin: 0,68g và 0,22g mẫu ma t y loại MDM c ng toàn bộ vỏ bao gói lại sau khi giám định theo biên bản đóng gói, niêm phong ngày 25/11/2020);
+ Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max cũ đã qua sử dụng, mặt tr ớc màu đen, mặt sau màu tr ng, có ốp nhựa màu xanh, bên trong chứa sim số 033.5983.570;
+ Trả lại cho bị cáo số tiền 347.000 đồng (Ba trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) tiền Việt Nam gồm: 06 (Sáu) tờ mệnh giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); 01 (Một) tờ mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 02 (Hai) tờ mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng); 01 (Một) tờ mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng); 01 (Một) tờ mệnh giá 2.000đ (Hai nghìn đồng) đ ợc đựng trong một phong bì niêm phong hiện đang l u giữ tại Kho Bạc Nhà n ớc huyện K theo biên bản bàn giao, tiếp nh n tài sản để bảo quản số 21/2020/BBBG-THAKB ngày 02/12/2020.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo B i Thế H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự s thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ lu t Tố tụng hình sự bị cáo, ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án s thẩm. Ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nh n đ ợc bản án hoặc bản án đ ợc niêm yết công khai theo quy định của pháp lu t.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- T ND tỉnh Hòa Bình;
- VKSND tỉnh Hòa Bình;
- Sở t pháp tỉnh Hòa Bình;
- VKSND huyện K;
- Chi cục TH DS huyện K;
- CQCSĐT Công an huyện K;
- CQ TH HS Công an huyện K;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình;
- Bị cáo; Ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên
Nguyễn Thị Đà Giang quan;
- L u hồ s vụ án.
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Văn Thức – Bùi Thanh Nông
Nguyễn Thị Đà Giang
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- T ND tỉnh Hòa Bình;
- VKSND tỉnh Hòa Bình;
- Sở t pháp tỉnh Hòa Bình;
- VKSND huyện K;
- Chi cục TH DS huyện K;
- CQCSĐT Công an huyện K;
- CQ TH HS Công an huyện K;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình;
- Bị cáo;
- L u hồ s vụ án.
Nguyễn Thị Đà Giang
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Văn Thức – Bùi Thanh Nông
Nguyễn Thị Đà Giang
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - T ND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở t pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện K; - Chi cục TH DS huyện K; - CQCSĐT Công an huyện K; - CQ TH HS Công an huyện K; - Bị cáo; - L u hồ s vụ án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Văn Rừng – Đinh Thị Bàng | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đà Giang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Doanh |