vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Ch 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 27/7/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Chiến - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G- TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 30/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh Nguyệt;

Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đăng Đán và ông Nguyễn Văn Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Cường, Thẩm tra viên tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G: Bà Vũ Thị Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 30/11/2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/HSST ngày 27/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/QĐXXHS-ST ngày 16/11/2021 đối với bị cáo:

Trịnh Văn Ch, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã L, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; học phổ thông: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đình Ng, sinh năm 1957 và bà Đào Thị Nh, sinh năm 1959; Gia đình có 02 anh em, bị cáo thứ nhất; vợ Nguyễn Thị A, sinh năm 1985; có 02 con sinh năm 2007 và 2014; không tiền án, tiền sự.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2021 tại nhà tạm giữ công an huyện G đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 27/7/2021 tại đường làng thuộc địa phận thôn Đ, xã D, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác công an xã D phát hiện bắt quả tang bị cáo Trịnh Văn Ch có hành vi tàng trữ 0,1881 gam ma túy, loại ma túy Methamphentamine trên người với mục đích sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 17 giờ 25 phút ngày 27/7/2021, bị cáo Ch nhận được điện thoại của Trịnh Văn S là người cùng làng rủ bị cáo đi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo đồng ý. Sau đó bị cáo đi đến thôn Q, thị trấn G, huyện G thì gặp S và một người thanh niên là bạn của S. Tại đây, S bảo bị cáo đi mua ma túy cùng người thanh niên kia. Người thanh niên điều khiển xe mô tô sirius chở bị cáo đến thôn , xã D, huyện G thì bảo bị cáo đứng chờ để anh ta đi mua ma túy. Một lúc sau người thanh niên đi ra và đưa cho bị cáo một vỏ bao thuốc lá 555, bị cáo mở ra thì thấy bên trong có 01 ống nhựa màu hồng có chưa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng. Bị cáo hiểu đó là ma túy đá ngựa vì bị cáo đã từng sử dụng. Nên bị cáo cất vào túi quần bên phải phía trước bị cáo đang mặc. Sau đó người thanh niên bảo bị cáo đứng đợi để anh ta đi đòi nợ. Khi bị cáo đang đi bộ trên đường thuộc địa phận thôn Đ, xã D thì bị công an xã D kiểm tra bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá 555 bên trong có 01 ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể mầu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng.

Kết luận giám định số 531/KLGĐMT- PC09 ngày 30/7/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

+ 01 viên nén hình tròn màu hồng bên trong ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu gửi giám định có khối lượng 0,0967 gam là ma túy, loại ma túy Methamphentamine.

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu gửi giám định có khối lượng là 0,0914 gam là ma túy, loại ma túy Methamphentamin.

Cáo trạng số: 47/CT-VKSGB, ngày 26/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Văn Ch từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Bị cáo nhận tội, thừa nhận hành vi như Cáo trạng và Bản luận tội; không tham gia tranh luận với Viện kiểm sát mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và vật chứng thu được có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ ngày 27/7/2021 tại đường làng thuộc địa phận thôn Đ, xã D, huyện G, tỉnh Bắc Ninh bị cáo Trịnh Văn Ch có hành vi tàng trữ 0,1881 gam ma túy, loại ma túy Methamphentamine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thỏa mãn như cầu của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với Trịnh Văn S là người bị cáo khai đã rủ bị cáo đi mua ma túy ngày 27/7/2021, đồng thời bảo bạn của S đưa bị cáo đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã triệu tập S lấy lời khai và đối chất nhưng S không thừa nhận nội dung trên nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với S. Khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với người thanh niên đi mua ma túy cùng với bị cáo Ch ngày 27/7/2021. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người thanh niên này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh. Khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vật chứng của vụ án gồm: Số ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố, đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Ch 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 27/7/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

3. Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Trịnh Văn Ch phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ