vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 08/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đặng Văn C, 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/10/2020. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo Đặng Văn C. Vật chứng là 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Văn C, thành phần tham gia và 05 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 08-02-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phúc An Hoành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ma Khánh Ly

2. Ông Hà Quang Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên

Quang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trung Hiếu, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2021/TLST - HS ngày 13 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 01 năm 2021, đối với bị cáo:

ĐẶNG VĂN C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/02/1972 tại huyện C, tỉnh T;

Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 03/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T, sinh năm 1948 và bà Triệu Thị L, sinh năm 1950; có vợ Đoàn Thị P và có 02 con;

Tiền án; tiền sự: Không;

Nhân thân: Quyết định số 221/QĐ-XPVPHC ngày 16/8/2018 của Công an huyện C, tỉnh T xử phạt vi pham hành chính về hành vi Đánh bạc, phạt tiền 1.500.000 đồng;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh T, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Bàn Văn Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 16/10/2020, Công an huyện C, tỉnh T nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân báo tin Đặng Văn C, đang có hành vi khai thác khoáng sản trái phép trên sông G (thuộc thôn T, xã N, huyện C, tỉnh T). Tổ công tác Công an huyện C đã phối hợp với Công an xã N tiến hành kiểm tra, làm việc. Quá trình làm việc Đặng Văn C đã tự giác lấy từ dưới mái che thuyền ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy có chữ, số nhiều màu, trong cùng chứa chất bột vón cục màu trắng, C khai là Heroine, cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là số Heroine trên để giám định.

Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 16/10/2020, tại Công an huyện C, đối với Đặng Văn C, kết quả: (+) Dương tính với chất ma túy.

Kết luận giám định số: 786/GĐKTHS ngày 19/10/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy (loại Heroine), có khối lượng 0,112g (không phẩy một một hai gam).

Quá trình điều tra Đặng Văn C khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 16/10/2020, Đặng Văn C cùng Bàn Văn Đ đang hoạt động khai thác khoáng sản (vàng trái phép) tại sông G (thuộc thôn T, xã N, huyện C, tỉnh T) thì có 01 người đàn ông đánh cá không quen biết, điều khiển thuyền vào thuyền C chơi, C mượn chiếc thuyền của người đàn ông đó điều khiển vào bờ, mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến bờ, C đi bộ lên khu vực đầu cầu N (thuộc thôn T, xã N, huyện C) thì gặp một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ, nhìn giống người nghiện ma túy đang đứng một mình ở đầu cầu, C đến gần hỏi và mua được 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy có chữ, số nhiều màu, trong cùng chứa chất bột vón cục màu trắng là Heroine với số tiền 250.000 đồng. Mua được Heroine, C đi xuống bờ sông vào chỗ vắng người lấy gói Heroine san ra một ít để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, số Heroine còn lại C gói lại như cũ, cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển thuyền đi ra thuyền của mình để trả thuyền cho người đàn ông trên, sau đó C lấy gói Heroine ra cất giấu vào dưới mái tôn che thuyền của mình rồi tiếp tục khai thác vàng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, thì tổ công tác của Công an huyện C kiểm tra, làm việc. Quá trình làm việc C đã tự giác lấy gói ma túy trên giao nộp cho tổ công tác.

Cáo trạng số 02/CT-VKSCH ngày 12/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T truy tố Đặng Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Đặng Văn C từ 12 đến 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2020.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân không có vụ lợi, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Đặng Văn C là 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Văn C thành phần tham gia và 05 (Năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Đặng Văn C, giám định ngày 17/10/2020.

Đối với người phụ nữ bán Heroine cho Đặng Văn C, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét. Đối với Bàn Văn Đ mặc dù có hành vi cùng bị cáo khai thác khoảng sản (vàng) trái phép, nhưng không biết C tàng trữ ma túy, nên không đề nghị xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Văn C, Công an huyện C đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.

Đối với hành vi khai thác khoáng sản (vàng) trái phép của Đặng Văn C và Bàn Văn Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ cùng toàn bộ tang vật đã thu giữ đến UBND huyện C để đề nghị UBND tỉnh Q ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định, nên không đề nghị xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 16/10/2020, tại thôn T, xã N, huyện C, tỉnh T, Đặng Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (loại Heroine), có khối lượng 0,112g (không phẩy một một hai gam), mục đích để sử dụng, do đó đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Ma túy là chất gây nghiện, có tác hại cho sức khỏe của con người, là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội, sa sút về kinh tế, gây đổ vỡ hạnh phúc gia đình..., nhưng bị cáo đã đi ngược lại quy định của Nhà nước, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, ngày 16/8/2018 Công an huyện C, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối C" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng mức án tương xứng với mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, C tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Vật chứng liên quan đến vụ án: Đối với số Heroine thu giữ của bị cáo Đặng Văn C xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy

định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không có tính vụ lợi, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Không thực hiện tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cấm hành nghề làm công việc nhất định đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Đặng Văn C quá trình điều tra không xác minh được tên, tuổi, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Văn C, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt hành chính nên không xem xét xử lý.

Đối với hành vi khai thác khoáng sản (vàng) trái phép của Đặng Văn C và Bàn Văn Đ, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh T đã thu giữ các công cụ, dụng cụ, máy móc mà đối tượng sử dụng khai thác vàng trái phép. Ngày 30/12/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh T đã chuyển hồ sơ cùng toàn bộ tang vật đã thu giữ nêu trên đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, nên không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo

bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đặng Văn C, 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16/10/2020.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo Đặng Văn C. Vật chứng là 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Đặng Văn C, thành phần tham gia và 05 (Năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Đặng Văn C, giám định ngày 17/10/2020.

Tình trạng vật chứng tịch thu tiêu hủy theo như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 27 tháng 01 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Đặng Văn C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/02/2021.

Cỡ chữ