- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Xuân Tùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Xuân T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HS - ST Ngày: 13/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng
Bà Lê Thị Thanh Thuỷ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2021/TLST - HS ngày 30 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Triệu Xuân T- Sinh ngày 04 tháng 8 năm 1996
Tại huyện T - tỉnh Hoà Bình.
Nơi cư trú: xóm Cáp, xã Bình Thanh, huyện T, tỉnh H;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12. Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
Con ông: Bạch Công P, sinh năm 1964.
Con bà: Triệu Thị N, sinh năm 1973.
Vợ là: Bùi Thị H, sinh năm 2000. Bị cáo có một con sinh năm 2020
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/04/2021 đến nay; (Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Hồng Nam, sinh năm 1983 (Vắng mặt có lý do)
Địa chỉ: Tổ 1, phường Dân Chủ, TP. H, tỉnh H
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ sáng ngày 15/04/2021, trong khi đang làm việc tại xưởng cơ khí NDũng, địa chỉ tại Tổ 1, phường Dân Chủ, TP. H, tỉnh H, Thỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS 28S7- 7163 của anh Nguyễn Hồng N, sinh năm 1983 là chủ xưởng cơ khí NDũng với mục đích để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi mượn được xe mô tô, Tđiều khiển xe đi đến cửa hàng xăng dầu Hưng Long thuộc phường Thống Nhất, TP. H gửi xe mô tô tại đó. Sau đó Tđi bộ khoảng 100 mét xuống dưới dốc Cun và vào trong một ngõ nhỏ gần đó gặp một người đàn ông dáng người gầy, da ngăm đen, khoảng 40 tuổi, cởi trần hỏi và mua ma túy của người này 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) Hêroin, sau đó người Ngiới trên đưa lại cho T01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong có chứa gói giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng, Tđể trong túi quần phía trước bên phải rồi đi bộ ra Quốc lộ 6 đón xe buýt đi về hướng huyện T. Khi đi đến địa phận xóm Đỉnh Cun, xã Thu Phong, huyện T, tỉnh H, Txuống xe và đi bộ vào quán bán hàng nước của gia đình chị Tống Thị Cẩm Thơ, với mục đích để tìm chỗ sử dụng ma túy. Trong lúc đang ngồi tại quán nước thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Tcó 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong có chứa gói giấy màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng.
Ngày 15/4/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 12/QĐ-CSĐT để tiến hành giám định khối lượng và loại chất ma túy đối với tang vật thu giữ của Triệu Xuân T.
Tại bản kết luận giám định số 113/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 19/04/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong bì niêm phong ghi tên Triệu Xuân Tgửi giám định có tổng khối lượng 0,19g (Không phẩy mười chín gam), là ma túy, loại Heroine nằm trong danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 09/CT -VKSCP ngày 29/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh H đã truy tố Triệu Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Xuân Tmức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 ( Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,12 gam mẫu chất ma tuý, loại Heroin.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện VKS, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS huyện T không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Triệu Xuân Tkhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và được sử dụng làm chứng cứ để HĐXX xem xét.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ khi lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do nghiện ma túy nên ngày 15/4/2021 bị cáo Triệu Xuân T đã có hành vi tàng trữ 0,19 gam ma tuý loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy hành vi của bị cáo Tđã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy là Heroine nằm trong danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Chất ma tuý gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh của con người khi sử dụng, làm cho con người mất đi lý trí, hành xử một cách vô ý thức và gây ra nhiều tệ nạn xã hội mà không thể lường trước được. Vì những tác hại của ma tuý, nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các quốc gia trên thế giới đều kiên quyết loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc loại tội phạm này. Hành vi của bị cáo cũng đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, huỷ hoại lối sống, nhân cách của một số thanh niên hiện nay, gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức đầy đủ việc mua ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật, nên hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thật nghiêm khắc để làm gương răn đe chung.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Giấy khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và là người mắc nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
. Về Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí HSST và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Hồng Nlà chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô, khi Thỏi mượn xe đi mua ma túy anh Nkhông biết mục đích mượn xe của Tnên Cơ quan CSĐT- Công an huyện T đã trả chiếc xe mô tô nhãn hiện Honda Wave S biển kiểm soát: 28S7-7163 cho ông Nguyễn Hồng Nlà có căn cứ đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Xuân T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
2. Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Triệu Xuân T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2021.
3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Triệu Xuân T.
4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,12 gam mẫu chất ma túy, loại Heroine.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 06/BB-GNVC ngày 02/7/2021 giữa Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).
5. Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Xuân T phải chịu 200.0000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 332, 333 BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H; - Phòng 7 - VKSND tỉnh Hoà Bình; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Đội THAHS và HTTP CA huyện CP; - Sở tư pháp tỉnh H; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện T; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà |