vanban.org

Bản án 09/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 28/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 ề tội danh: Tuyên bố bị cáo Tr n Duy P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2 ề hình phạt: ử phạt bị cáo Tr n Duy P 08 (tám) năm tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/8/2020 (ngày hai mươi tháng tám năm hai nghìn không trăm hai mươi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Trần Duy Phương (Đ 251) - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 ề tội danh: Tuyên bố bị cáo Tr n Duy P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 09/2021/HS-ST
Ngày 28 – 01 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tr n n áu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê n Phu;

2. Ông Huỳnh Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Kiểm sát viên

Trong ngày 28 tháng 01 n m 2021, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 01 n m 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15 2021 Q

T-H ngày 15 tháng 01 n m 2021, đối với bị cáo:

Tr n Duy P, sinh ngày 12/9/1998 tại An Phú, An Giang; nơi đ ng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã K, huyện An Phú, An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: iệt Nam; con ông Tr n Phong , sinh n m 1975 và bà Nguyễn Thị L, sinh n m 1979; vợ Tr n Thị yến N, sinh n m 1999; anh em ruột có 03 người, bị cáo là người lớn nhất; vợ Tr n Thị Yến N đang mang thai

Nhân thân: Lúc nhỏ sống chung với gia đình, đi học hết lớp 6 thì nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm pháp

Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8 2020 đến nay

Bị cáo c m t

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. SL, sinh n m 1995; địa chỉ: Ấp , xã Q, huyện An Phú, tỉnh An giang

2. Nguyễn n T, sinh n m 1992; địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện An Phú, tỉnh An Giang

- Người chứng kiến:

1. Ông Tr n Thanh T1, sinh n m 1983;

2. Bà Tr n Thị Yến N, sinh n m 1999

Tại phiên tòa, bà N có m t; những người còn lại vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt N sau:

Ngày 19/8/2020, P điều khiển xe môtô từ nhà đến bờ sông thuộc xã Khánh An, huyện An Phú (cách chợ Khánh An khoảng 100 mét) để mua ma túy của người đàn ông tên Buôl (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) là người Campuchia, với số tiền 500 000 đồng Mua xong, P mang ma túy về nhà cất giấu, mục đích để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện ến khoảng 21 giờ ngày 20 8 2020, P đang sử dụng ma túy cùng với SL tại nhà P thuộc ấp B, xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang đối với P và thu giữ các vật chứng có liên quan.

Qua điều tra còn xác định, từ tháng 7 2020 đến ngày 20 8 2020 P bán ma túy cho SL 04 l n và bán cho Nguyễn n T 02 l n, mỗi l n với giá 200 000 đồng

C n cứ Kết luận giám định số 214 KLGT-PC09(MT) ngày 27 8 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang xác định: 01 (một) phong bì được niêm phong c in dấu tròn màu đỏ của Công an xã Khánh Bình và các chữ ký ghi tên Nguyễn n Tuấn, Nguyễn Hoài ơn, Tr n Duy P, bên trong có 03 bọc nylon trong suốt hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại Methamphetamine, c tổng khối lượng 0,7090 gam

Ngày 29 8 2020, Tr n Duy P bị khởi tố điều tra

Cáo trạng số 01/CT-VKSAP-HS ngày 06 tháng 01 n m 2021 của iện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo Tr n Duy P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 iều 251 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi N đã nêu trên Mục đích của bị cáo mua ma túy là để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện. Bản thân bị cáo đã sử dụng ma túy từ tháng 03 n m 2020 ố tiền 850 000 đồng là tiền bị cáo c m nhẫn cưới để lấy tiền lo cho vợ đang mang thai

Tr n Thị Yến N (là vợ bị cáo P) xác định P c nghiện ma túy P bán ma túy cho ai, bao nhiêu l n thì N không biết iệc P c m chiếc nhẫn là có biên nhận Hiện N đang mang thai, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho P.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người vắng m t Bị cáo, đại diện iện kiểm sát không c ý kiến

ại diện iện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố au khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết t ng n ng, giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tr n Duy P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị c n cứ điểm b khoản 2 iều 251; điểm s khoản 1 iều 51; iều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) n m đến 08 (tám) n m tù.

ề hình phạt bổ sung: Do bị cáo không c nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế kh kh n, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

ề biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử c n cứ các điều 46, 47 Bộ luật hình sự; iều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án và buộc P nộp lại số tiền do phạm tội mà c để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo Tr n Duy P không c ý kiến tranh luận

Lời n i sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định N sau:

ề tố tụng:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, iều tra viên, iện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, iều tra viên, iện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đ y đủ và phù hợp với quy định của pháp luật

Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Do đ , Hội đồng xét xử xem xét hành vi, quyết định tố tụng của iều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa Nng tại phiên tòa, những người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t không rõ lý do. Tuy nhiên, những người này đã c lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án; đại diện iện kiểm sát, bị cáo không c ý kiến, xét việc vắng m t của họ không gây trở ngại cho việc xét xử ì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t những người tham gia tố tụng này là phù hợp iều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

ề nội dung: ét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của những người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến C n cứ vào các lời khai; Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/8/2020 của Công an xã Khánh Bình; kết luận giám định số 214/KLGT-PC09(MT) ngày 27/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các tài liệu, chứng cứ khác c trong hồ sơ, c c n cứ xác định: Nhằm mục đích c ma túy sử dụng và c tiền tiêu xài cá nhân Tr n Duy P mua ma túy mang về nhà cất giấu để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện. Từ tháng 7 2020 đến ngày 20/8/2020 P đã bán ma túy cho SL 04 l n và bán cho Nguyễn n T 02 l n, mỗi l n giá 200 000 đồng Khoảng 21 giờ ngày 20 8 2020, P đang bán ma túy cho SL sử dụng tại nhà thuộc ấp Búng Nhỏ, xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang thì bị bắt quả tang với số ma túy còn lại c trọng lượng 0,7090 gam loại Methamphetamine. Bị cáo là người c đ y đủ n ng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự quản lý hành chính và sự quản lý độc quyền chất ma ma túy của Nhà nước và làm mất an ninh trật tự tại địa P. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ; Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 iều 251 Bộ luật Hình sự ác định truy tố của iện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đối với Tr n Duy P theo Cáo trạng số 01/CT-VKSAP-HS ngày 06 tháng 01 n m 2021 là c c n cứ, đúng pháp luật

ề tính chất vụ án: Ma túy là chất hướng th n, gây nghiện và n được coi là “cái chết trắng” cho cộng đồng. Trong thực tế, mọi người đều muốn loại trừ h n ma túy ra khỏi đời sống xã hội, Nhà nước ta c ng đã c nhiều biện pháp, ban hành nhiều v n bản quy phạm pháp luật nhằm ng n ch n, đẩy lùi việc sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy bởi tính nguy hiểm cao độ của n Người sử dụng ma túy trước hết s bị ảnh hưởng về sức khỏe, trí tuệ, kinh tế gia đình Ma túy n còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác N: Trộm cắp, cướp giật, giết người Cho nên, loại trừ h n ma túy ra khỏi đời sống xã hội là thật sự c n thiết; là nguyện vọng của toàn thể nhân loại.

Tình hình tội phạm ma túy trên cả nước n i chung và địa bàn huyện An Phú n i riêng đang diễn biến phức tạp và ngày càng gia t ng về số lượng; tinh vi về cách thức thực hiện ố người nghiện mới c xu hướng t ng và sử dụng nhiều loại ma túy, đ c biệt là ma túy tổng hợp loại Methamphetamine (ma túy đá) Nguyên nhân bị cáo mua bán ma túy là vì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, muốn c ma túy sử dụng và bán lại cho người khác; động cơ, mục đích là thỏa mãn cơn nghiện và mục đích vụ lợi Hành vi mua bán ma túy của bị cáo rất chuyên nghiệp và liều lĩnh Bị cáo chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng, cân tiểu ly, bọc chứa, khò hàn Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, nếu không được phát hiện sớm, thì s gây ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy tại địa P. iệc bị cáo sử dụng, mua bán ma túy còn tiếp tay cho bọn tội phạm về ma túy, tự hại cho bản thân và đưa “cái chết trắng” vào cộng đồng. ì vậy, xét thấy c n thiết phải c hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm r n đe, giáo dục và phòng ngừa chung

ề hình phạt:

ề nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa c tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, thường xuyên tụ tập với các đối tượng nghiện trên địa bàn, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

ề tình tiết t ng n ng: Bị cáo không c tình tiết t ng n ng trách nhiệm hình sự

ề tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra c ng N tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, tỏ thái độ n n n hối cải; bị cáo thuộc thành ph n lao động ngh o, ít am hiểu pháp luật; vợ bị cáo đang mang thai, nên c xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 iều 51 Bộ luật Hình sự

ới tính chất và sự nguy hiểm của ma túy cho xã hội; mức độ của hành vi; nhân thân không tốt của bị cáo và đ c biệt là tình hình gia t ng loại tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện An Phú ét c n áp dụng hình phạt tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian nữa, để c đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, c ích cho gia đình và xã hội về sau

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị về mức hình phạt của iện kiểm sát đối với bị cáo là c c n cứ, đúng pháp luật, đáp ứng được yêu c u r n đe, giáo dục và phòng ngừa, nên chấp nhận.

ề hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 iều 251 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn c thể bị phạt tiền từ 5 000 000 đồng đến 500 000 000 đồng .tịch thu một ph n ho c toàn bộ tài sản ét bị cáo không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế kh kh n nên thống nhất đề nghị của iện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

ề biện pháp tư pháp:

C n cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của SL, Nguyễn n T c c n cứ xác định bị cáo đã 06 l n bán ma túy cho SL và T, đã thu được số tiền 1 000 000 đồng (mỗi l n 200 000 đồng), l n thứ 06 bán cho SL chưa thu được tiền thì bị bắt Do đ buộc bị cáo nộp lại số tiền do phạm tội mà c 1 000 000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước

ề xử lý vật chứng: ật chứng còn lại trong vụ án là 01(một) phong bì được niêm phong, bên trong chứa chất ma túy loại Methaphetamin; 01 điện thoại nhãn hiệu 0PP0, màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 chai gas; 01 cây khò; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 tấm kính; 02 cân tiểu ly; 02 cây dao tự chế; 01 cây kiếm; tiền iệt Nam 850 000 đồng, được xử lý N sau:

- ối với phong bì chứa chất ma túy loại Methaphetamin là chất Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy

- ối với bộ dụng cụ sử dụng ma túy, chai gas, cây khò, kéo, tấm kính, cân tiểu ly, dao tự chế, kiếm là các công cụ bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, xét không c giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy

- ối với điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen bị cáo đã sử dụng trong việc liên hệ mua bán ma túy, là công cụ, P tiện liên quan đến tội phạm, nên tịch thu hóa giá sung ngân sách nhà nước

- ối với số tiền 850 000 đồng được xác định là tiền của cá nhân bị cáo c được l ra trả lại cho bị cáo Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc thi hành án khoản nộp ngân sách tiền do phạm tội mà c Do đ khấu trừ số tiền này vào khoản tiền nộp ngân sách 1 000 000 đồng Bị cáo còn phải nộp thêm 150 000 đồng

ề chi phí tố tụng:

ề án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;

ề chi phí tố tụng khác: Bị cáo và các đương sự trong vụ án không phải chịu các chi phí tố tụng khác

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 ề tội danh: Tuyên bố bị cáo Tr n Duy P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2 ề hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,

ử phạt bị cáo Tr n Duy P 08 (tám) năm tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/8/2020 (ngày hai mươi tháng tám năm hai nghìn không trăm hai mươi).

3 ề biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ các điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự,

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

01 (một) phong bì thư được niêm phong c in dấu của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) chai gas; 01 (một) cây khò; 01 (một) tấm kính; 02 (hai) cây cân điện tử (loại cân tiểu ly); 02 (hai) cây dao tự chế; 01 (một) cây kiếm

- Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen;

+ Buộc bị cáo nộp lại 1.000.000 (một triệu) đồng ố tiền này được khấu trừ 850.000 (tám trăm năm mươi nghìn) đồng thu giữ của bị cáo. Bị cáo còn phải nộp thêm 150 000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 01 năm 2021 và Biên lai thu tiền s 0000735 ngày 07/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

4 ề án phí:

Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật T tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Qu c Hội về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí T a án,

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

5. ề quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật T tụng hình sự,

n tuyên công khai c m t bị cáo Tr n Duy P Thời hạn kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/01/2021).

Thời hạn kháng cáo của người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan SL, Nguyễn n T là 15 ngày kề từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Cỡ chữ