vanban.org

Bản án 09/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 24/03/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh M. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai số 0001322 ngày 05/5/2020 của Cục Thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ngọc H - M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24-3-2021
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Hiếu Nhường.

Bà Nguyễn Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Danh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Xinly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1983 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh M, sinh năm 1966 (vắng mặt);

Quốc tịch: Hoa Kỳ;

Địa chỉ thường trú: Hoa Kỳ;

Địa chỉ hiện nay: Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc H trình bày:

Thông qua mạng xã hội, khoảng tháng 6/2015, chị và anh M tự tìm hiểu và quen biết nhau. Đến tháng 02/2016, anh M về Việt Nam gặp chị nhiều lần, thấy tính tình hợp nhau, sau đó anh trở về Hoa Kỳ. Đến ngày 19/7/2016, anh M về Việt Nam, anh chị tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80/2016 ngày 10/8/2016 do Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp.

Sống chung với nhau 01 tháng, đến ngày 10/11/2016 thì anh M trở về Hoa Kỳ, anh chị vẫn thường xuyên gọi điện thoại hỏi thăm nhau. Đến tháng 8/2017, chị sang Malaysia chăm sóc người thân, chị liên tục gọi điện thoại để giữ liên lạc nhưng anh M ít khi nghe máy và gọi lại cho chị nên chị nhận thấy tình cảm vợ chồng có dấu hiệu mâu thuẫn nhưng cũng không hiểu vì lý do gì.

Tháng 8/2018, chị trở về Việt Nam nhờ mẹ ruột liên lạc với anh M để tìm hiểu sự việc nhưng anh M trả lời giữa anh chị không hợp nhau, không có khả năng bảo lãnh chị sang Hoa Kỳ để sống chung với nhau, muốn ly hôn với chị.

Đầu năm 2019 chị liên lạc yêu cầu anh M làm thủ tục thuận tình ly hôn gửi về Việt Nam cho chị, anh M hứa nhiều lần nhưng không thực hiện.

Bản thân chị nhận thấy: Anh chị cách xa nhau về địa lý, tính tình không hợp, không thông cảm cho nhau, thực tế thời gian ly thân đã kéo dài trên 03 năm 06 tháng, hơn nữa anh M cũng không bảo lãnh chị sang Hoa Kỳ để sống chung đúng nghĩa vợ chồng… Hiện tại chị đã lớn tuổi, nếu tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt chỉ làm khổ cho đôi bên.

Do đó, chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh M.

- Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh M đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vắng mặt trong suốt quá trình hòa giải, xét xử; cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Nhận thấy mâu thuẫn giữa chị Trần Thị Ngọc H và anh M đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H; về con chung, tài sản chung, nợ chung: chị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét; chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Trần Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh M nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Ngọc H có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn với anh M. Anh M có quốc tịch Hoa Kỳ và đang cư trú tại Hoa Kỳ nên cần phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt văn bản tố tụng theo khoản 1 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Về tố tụng: Chị Trần Thị Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, cũng không có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chị Trần Thị Ngọc H và anh M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80/2016 ngày 10/8/2016 do Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị Trần Thị Ngọc H, sau khi kết hôn, chị và anh M chỉ chung sống với nhau được một tháng, sau đó anh M trở về Mỹ, chị sống tại Việt Nam. Thời gian đầu, anh chị còn liên lạc với nhau nhưng kể từ tháng 8/2017 thì anh M ít khi nghe máy và gọi cho chị; đến tháng 8/2018 thì anh M cho rằng anh chị không hợp nhau, không có khả năng bảo lãnh chị sang Hoa Kỳ để sống chung với nhau, muốn ly hôn với chị.

Nhận thấy, thời gian anh M và chị Trần Thị Ngọc H chung sống như vợ chồng không dài, sau đó lại sống tách biệt khiến cho việc vun đắp tình cảm vợ chồng gặp nhiều khó khăn; từ tháng 8/2017, anh chị đã dần ít liên lạc với nhau, thời gian ly thân đã kéo dài trên 03 năm 06 tháng nhưng anh M lại không có ý định trở về Việt Nam hoặc bảo lãnh chị Trần Thị Ngọc H sang Hoa Kỳ để chung sống như vợ chồng đúng nghĩa khiến cho tình cảm vợ chồng suy giảm. Mục đích cơ bản của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững nhưng chị Trần Thị Ngọc H và anh M lại thường xuyên sống xa nhau, lại không liên lạc khiến cho việc xây dựng gia đình không đạt được, càng không tạo được sự bền vững trong quan hệ vợ chồng. Thêm vào đó, từ khi chị Trần Thị Ngọc H nộp đơn xin ly hôn đến nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng anh M vẫn vắng mặt không lý do, không tham gia các phiên hòa giải, xét xử, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Từ đó cho thấy anh M không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Trần Thị Ngọc H. Cả hai đã không còn tình cảm với nhau, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho chị Trần Thị Ngọc H và anh M.

Từ những nhận định trên, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Trần Thị Ngọc H và anh M không còn khả năng hàn gắn, hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H đối với anh M.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Ngọc H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị đã nộp nên xem như chị đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, khoản 1 và 3 Điều 228, khoản 1 và 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc H được ly hôn với anh M.

2. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai số 0001322 ngày 05/5/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như chị đã nộp xong án phí sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng: Chị Trần Thị Ngọc H phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị đã nộp nên xem như chị đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Anh M cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ