- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình về xin ly hôn theo đơn khởi kiện của chị T đối với anh P"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST Ngày: 31-03-2021 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Châu Nam Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Chuyên;
Ông Chau Cương.
- Thư ký phiên tòa: ông Châu Kim Sol - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên Tòa: bà Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 03 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 290/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 07 năm 2020 về tranh chấp "xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXX-ST ngày 19 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1997. Nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
2. Bị đơn: anh Lê Minh P, sinh năm 1992. Nơi cư trú : ấp Tân Biên, xã An Nông, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mă ̣t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thi ̣ T trình bày:
- Về hôn nhân: chị T và P do quen biết trước và tìm hiểu nhau được 04 năm thì quyết định tiến đến hôn nhân, được gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Sau khi kết hôn, anh P về chung sống với gia đình bên chị tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang được 01 năm thì vợ chồng đi làm ăn xa, sau đó chị về quê sinh sống và sinh được một đứa con. Cuộc sống chung của vợ chồng ban đầu hạnh phúc, anh P lo làm ăn, chăm lo gia đình.
Thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh P thường xuyên chơi cờ bạc, đá gà, không lo làm ăn, không tiếp chăm sóc con, mỗi chi phí nuôi con do đều do chị lo nên vợ chồng thườ ng xuyên cự cải nhau, chị T đã nhiều lần khuyên nhưng anh P không nghe, tính nào tật nấy, không sữa đổi, nhiều lần chị và anh P tự hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không được.
Đến tháng 06 năm 2019 chị T đã bỏ về sống mẹ ruột tại ấp P, xã A, huyê ̣n T sinh sống, còn anh P sống tại bên cha me ̣ ruô ̣t ta ̣i ấp T1, xã A, huyê ̣n T nên chị và anh P sống ly thân từ đó cho đến ngày hôm nay.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn chị P yêu cầu ly hôn với anh P.
- Về con chung: chị và anh P có một đứa con chung tên Lê Hoàng Nhứt T2, sinh ngày 10/8/2019. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được quyền nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: không có.
2. Bị đơn anh Lê Minh P trình bày:
- Về hôn nhân: anh và chị T do quen biết trước và tìm hiểu nhau được khoảng 04 năm, quyết định tiến đến hôn nhân, được gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Sau khi kết hôn anh chung sống với gia đình bên vợ tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang được khoảng 02 năm thì vợ chồng quyết định đi làm ăn xa, sau đó về quê sinh sống và sinh được một đứa con chung. Cuộc sống chung của vợ chồng ban đầu hạnh phúc.
Thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh có tham gia chơi cờ bạc, đá gà từ lúc chưa cưới cho đến nay, nên vợ chồng cự cải nhau nhiều lần, vợ anh nhiều lần khuyên và anh đã hứa không chơi cờ ba ̣c nữa nhưng chỉ nghỉ chơi được một thời gian thì anh có tục chơi, dù được chị T khuyên nhiều lần, nhưng anh không chịu nghe, nay anh hứa sẽ sữa đổi, không còn tham chơi đá gà nữa.
Đến tháng 06 năm 2019 anh và chị T đã ly thân cho đến nay, chị T sống tại ấp P, xã A đến nay, còn anh P sống tại ấp T1, xã A, huyê ̣n T.
Anh P còn thương vợ, thương con nên anh không đồng ý ly hôn vớ i chi ̣ T.
- Về con chung: có một đứa con chung tên Lê Hoàng Nhứt T2, sinh ngày 10/8/2019. Nếu có ly hôn, anh P đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng con và anh sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con trưở ng thành.
- Về tài sản chung: anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: không có.
Ngày 12 tháng 03 năm 2021, Tòa án mở phiên tòa xét lần thứ nhất nhưng các đương sự vắng mă ̣t nên Tòa án hoan phiên tõ
̀a.
Tại phiên tò a hôm nay, nguyên đơn chi ̣ T vẫn giữ nguyên yêu cầu
khở i kiê ̣n ; bị đơn anh P vắng mă ̣t không có lý do
và không ai cung cấp thêm tài liê ̣u chứ ng cứ
cho Tòa án .
3. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh P chưa thực hiê ̣n quyền, nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hê ̣ hôn nhân: nhận thấy hôn nhân giữa chị T và anh P là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghia vu ̣̃
của vợ chồng t heo luâ ̣t hô n nhân gia đinh. Xét thấy tình cảm vợ chồng của chị T và anh P không còn ha ̣nh phúc, từ năm ̀ 2019 cả hai bỏ mặt không còn quan tâm nhau , không còn chung sống vớ i nhau . Điều đó cho thấy mẫu thuẫn giữa hai vợ chồng chi ̣ T và anh P là rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T.
+ Về quan hê ̣ con chung: chị T và anh P có một đứa con chung tên Lê Hoàng Nhứt T2, sinh ngày 10/8/2019. Khi ly hôn chị T chị xin quyền nuôi con , anh P đồng ý giao con cho chi ̣ T nuôi dưỡng và hiê ̣n nay cháu Thiên còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc của ngườ i me ̣ ; quá trình tố tụng tại Tòa án , anh P cũng đồng ý giao con cho chi ̣ T nuôi dưỡng nếu ly hôn ; anh P tự nguyê ̣n cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ (hai triê ̣u đồng ) cho đến khi cháu Thiên trưở ng thành . Vì vâ ̣y, đề nghị giao cháu T2 cho chi ̣ T tiếp tu ̣c nuôi dưỡng và công nhâ ̣n sự tự nguyê ̣n của anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về quan hê ̣ tài sản chung, nợ chung: chị T, anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết và khai không có nợ chung nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hôn nhân gia đình về việc xin ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại trên đi ̣a bàn huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mă ̣t của bi ̣ đơn anh Lê Minh P đa đượ̃
c Tòa án tống đa ̣t hợp lê ̣ tham gia phiên tòa lần 2 nhưng vắng mă ̣t không có lý do , không vi sự kiê ̣n bất
̀ khả kháng hoặc gă ̣p trở nga ̣i khách quan . Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa chị T và anh P được xác lập vào năm 2017, trong thờ i điểm Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực, nay phát sinh tranh chấp thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết theo quy định tại Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P được xác lập vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyê ̣n T theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của các đương sự và xác minh tại địa P thì tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh P có phát sinh mâu thuẫn, hiện tại đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay , không còn qua lại với nhau.
Nhâ ̣n thấy , tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị
T và anh P đa trẫ ̀m trọng , đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T xin ly hôn là có căn cứ, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận , phù hợp với 56 Luâ ̣t hôn nhân và gia đinh năm 2014.
̀
Về quan hệ con chung: chị T và anh P có một đứa con chung tên Lê Hoàng Nhứt T2, sinh ngày 10/8/2019. Chị T xin quyền nuôi con, anh P đồng ý giao con cho chi ̣ T nuôi dưỡng. Để ổn đi ̣nh về mo ̣i mă ̣t của con nhỏ , môi trườ ng sống , học tập của con chung nên Hô ̣i đồng xét xử giao cháu Thiên cho chi ̣ T nuôi dưỡng.
Chị T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh P thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người người nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung nhưng anh P tự nguyê ̣n cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ, đây sự tự nguyê ̣n của anh P đóng góp cùng vớ i chi ̣ T trong viê ̣c nuôi dưỡng con chung, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhâ ̣n.
Về quan hê ̣ tài sản chung, nợ chung: chị T, anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết và khai không có nợ chung nên không đề cập giải quyết.
Bị đơn anh P vắng mă ̣t ta ̣i phiên tòa lần thứ hai , không trình bày gì thêm và không cung cấp tài liê ̣u chứ ng cứ cho Tòa án nên không có cơ sở xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hồi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Chị Nguyễn Thi ̣ T là người xin ly hôn nên phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vu ̣ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Anh Lê Minh P phải chịu 3000.000đ tiền án phi dân sự sơ thẩm (án phí cấp
́ dưỡng đinh kỳ).
̀
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 218; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000;
- Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thi ̣ T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thi ̣ T được ly hôn anh Lê Minh P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 22, ngày 16/06/2017 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Hoàng Nhứt T2, sinh ngày 10/8/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thị T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Lê Minh P trong viê ̣c thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung;
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người người nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lê Minh P cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu Lê Hoàng Nhứt Thiên, sinh ngày 10/8/2019, mỗi tháng là 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Thiên trưởng thành (đủ 18 tuổi). Thờ i gian thực hiê ̣n cấp dưỡng được tinh kể từ tháng 04 năm 2021.
́
4. Về án phí sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thi ̣ T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0009489 ngày 22 tháng 07 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên.
- Anh Lê Minh P phải chịu 3000.000đ tiền án phi dân sự sơ thẩm (án phí cấp
́ dưỡng đinh kỳ).
̀
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mă ̣t thi thờ i ha ̣n kháng cáo là 15 ngày, kể
̀
từ ngày nhâ ̣n được bản án hoă ̣c bản án được tống đa ̣t hợp lê ̣ theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKS huyện; - UBND xã/ thị trấn nơi đăng ký kết hôn; - THA huyện; - Lưu vp, hs. | Châu Nam Phú |