vanban.org

Bản án 09/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Võ Thị L.

Về nuôi con chung: Ghi nhận anh D trình bày không có. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận anh D không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Võ Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST
Ngày 27-01-2021
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình;

Ông Hoàng Ngọc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 521/2020/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 8 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ 13, ấp H, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ 13, ấp H, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị L sống chung với nhau năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh ngày 20-11-2018, hôn nhân tự nguyện. Trong thời gian sống chung giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, hai bên đã cùng nhau nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhưng không được. Do đó, nay anh nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không ai quan tâm đến ai nên anh yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Võ Thị L nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục , thực hiê ̣n đầy đủ theo quy đi ̣nh của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện các thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với chị Võ Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt chị L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Xét thấy giữa anh Nguyễn Văn D và chị Võ Thị L đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến ly thân từ khoảng tháng 2-2020 cho đến nay không thể hàn gắn được nên anh D yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Do đó căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn D đối với chị Võ Thị L.

- Về nuôi con chung: Anh D trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận anh D không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn D là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; chị Võ Thị L là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh D và chị L.

Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn D và chị Võ Thị L chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2018, hôn nhân giữa anh, chị là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh D thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án chị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến; tuy nhiên theo biên bản xác minh tại địa phương nơi anh D và chị L sinh sống thì giữa anh D và chị L có xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 02-2020 cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng dẫn đến vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên anh D yêu cầu ly hôn với chị L là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Ghi nhận anh D trình bày không có.

Về tài sản chung , nợ chung: Ghi nhận anh D không yêu cầu giải quyết.

Về án phi dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn D phải chịu án phí theo quy

́ định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Võ Thị L.

2. Về nuôi con chung: Ghi nhận anh D trình bày không có.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận anh D không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0001231 ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; anh D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn D và chị Võ Thị L có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ