- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Văn H - Nguyễn Thị H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Dương Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2021/HNGĐ-ST Ngày 08-02-2021 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét sử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nông Văn Bằng
Ông Phan Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2020 về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXX-ST ngày 04 tháng 01 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn Anh Dương Văn H, sinh năm 1983
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt
2. Bị đơn chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Dương Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn H kết hôn với chị Nguyễn Thị H1 vào năm 2007, trước khi kết hôn có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, nhiều lần cãi chửi nhau. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2015 đến nay không ai còn quan tâm gì đến nhau. Hiện nay anh Dương Văn H yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1
Về con chung: Có một người con chung tên là Dương Tuấn D, sinh ngày 29/6/2008. Khi ly hôn anh Dương Văn H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), Tại đơn khởi kiện anh Dương Văn H yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Dương Văn H tự nguyện rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Về phía bị đơn, chị Nguyễn Thị H1 không đến Tòa án tham gia tố tụng. Tòa án đã tiến hành xác minh với đại diện thôn N, xã V và xác minh tại Công an xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Đại diện thôn N, xã V và Công an xã V đều khẳng định chị Nguyễn Thị H1 vẫn cư trú tại thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và lập biên bản niêm yết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị H1 vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có lý do.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn chị Nguyễn Thị H1 không đến Tòa án tham gia vào quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Dương Văn H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn anh Dương Văn H đã chấp hành, thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; có mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Dương Văn H. Về con chung: Giao con chung cháu Dương Tuấn D, sinh ngày 29/6/2008 cho anh Dương Văn H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, chị Nguyễn Thị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết. Về án phí, buộc nguyên đơn anh Dương Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn anh Dương Văn H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con. Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại thôn Nà Qué, xã Vũ Sơn, huyện Bắc Sơn. Do đó, căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa xét xử lần thứ hai không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H1 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về tình cảm: Quan hệ hôn nhân giữa anh Dương Văn H và chị Nguyễn Thị H1 là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 10/8/2007 nên quan hệ hôn nhân giữa anh Dương Văn H và chị Nguyễn Thị H1 là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2015 đến nay không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống.
Xác định tình trạng hôn nhân giữa anh Dương Văn H và chị Nguyễn Thị H1 thấy rằng: Chị Nguyễn Thị H1 không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến về việc anh Dương Văn H có đơn xin ly hôn với chị. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Dương Văn H yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị H1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy cần được chấp nhận.
Về con chung: Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu về con chung của anh Dương Văn H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 58, 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận. Do đó cần giao con chung là cháu Dương Tuấn D, sinh ngày 29/6/2008 cho anh Dương Văn H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi), đó cũng là nguyện vọng của cháu Dương Tuấn D.
Về cấp dưỡng nuôi con, do quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Dương Văn H tự nguyện rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 phải cấp dưỡng nuôi con, căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Nguyễn Thị H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Anh Dương Văn H trình bày là không có, quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt, không có ý kiến gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Dương Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận anh Dương Văn H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2012/05941 ngày 13 tháng 11 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 56; Điều 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Dương Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Dương Tuấn D, sinh ngày 29/6/2008 cho anh Dương Văn H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Đình chỉ đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, chị Nguyễn Thị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị Nguyễn Thị H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc anh Dương Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận anh Dương Văn H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2012/05941 ngày 13 tháng 11 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Dương Văn H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Thị Ngọc |