vanban.org

Bản án 09/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà 29.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 1.480.000 đồng (Một triệu bốn trăm tám mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 740.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) theo phiếu thu số 0003722 ngày 27/02/2020 của Chi cục thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "dân sụ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà 29.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2021/DS - ST.
Ngày: 26 - 02 - 2021.
V/v “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Nguyễn Kim P

2. Ông Huỳnh Quyết Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Buốl – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Điều - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp N P, thị trấn Đại N, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp An Đ, thị trấn Đại N, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2020 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại hiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 2018 bà Nguyễn Thị Đ có vay của bà 20.000.000 đồng cụ thể:

Vào ngày 16/01/2018 âm lịch bà Đ có hỏi vay của bà 10.000.000 đồng, khi vay không có làm giấy tờ, chỉ thỏa thuận bằng miệng, thời gian trả là 01 tháng, mục đích nhằm bổ sung vốn làm ăn, mua bán.

Vào ngày 02/02/2018 âm lịch bà Đ có hỏi vay của bà 10.000.000 đồng, khi vay không có làm giấy tờ, chỉ thỏa thuận bằng miệng, thời gian trả là 01 tháng, mục đích nhằm bổ sung vốn làm ăn, mua bán.

Bà nhiều lần yêu cầu bà Đ trả nhưng bà Đ không trả. Nay bà yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng tiền gốc và yêu cầu trả lãi cho bà theo lãi suất nhà nước quy định từ ngày 16/01/2018 âm lịch đối với số tiền vay 10.000.000 vay ngày 16/01/2018 âm lịch và lãi suất nhà nước quy định từ ngày 02/02/2018 âm lịch đối với số tiền vay 10.000.000 ngày 02/02/2018 âm lịch là 9.600.000 đồng.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 96, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà 29.600.000 đồng trong đó tiền gốc là 20.000.000 đồng và tiền lãi là 9.600.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thị Đ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng tiền gốc và yêu cầu trả lãi cho bà theo lãi suất nhà nước quy định từ ngày 16/01/2018 âm lịch đối với số tiền vay 10.000.000 vay ngày 16/01/2018 âm lịch và lãi suất nhà nước quy định từ ngày 02/02/2018 âm lịch đối với số tiền vay 10.000.000 ngày 02/02/2018 âm lịch là 9.600.000 đồng.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng khi cho vay không có giấy tờ hay chứng cứ gì để chứng minh bị đơn có vay của nguyên đơn. Mặt khác, ngày 14/10/2020 Tòa án có ra Thông báo bổ sung tài liệu, chứng cứ số 242/TB-TA ngày 14/10/2020 yêu cầu nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ để chứng minh bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền trên. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng là ông Nguyễn Văn Dũng ngụ tại ấp N Hòa, thị trấn Đại N, huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng. Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 17/11/2020 ông Nguyễn Văn Dũng có khai “ Mỗi lần tôi chở bà T lại quán bà Dung, tôi đều ngồi gần đó và khi bà T đưa tiền cho bà Đ, thì bà Đ đều đếm tiền nên tôi biết, mỗi lần nhận tiền là 10.000.000 đồng, hai lần là 20.000.000 đồng” “vì khi bà T đưa tiền cho bà Đ thì thấy bà Đ đếm tiền, hai bên chỉ nói chuyện qua lại, không có nói đây là tiền gì nên tôi không biết” và lời khai của ông Dũng phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho rằng việc nguyên đơn giao tiền cho bị đơn, nguyên đơn không nói cho ông Dũng biết đó là tiền gì.

Từ chứng cứ nêu trên đối chiều với Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng tiền gốc và 9.600.000 đồng tiền lãi là có căn cứ.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 1.480.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long P đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 96, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải trả cho bà 29.600.000 đồng (Hai mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng) trong đó số tiền gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và tiền lãi là 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm nghìn đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 1.480.000 đồng (Một triệu bốn trăm tám mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 740.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) theo phiếu thu số 0003722 ngày 27/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long P, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Nguyễn Thị T còn phải nộp 740.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự Pc thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ