vanban.org

Bản án 09/2020/HSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 10/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long đối với ông Nguyễn Xuân Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử: Buộc ông Nguyễn Xuân Thanh P phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long số tiền nợ tính đên ngày 10.9.2020 là 86.246.374 đồng (tám mươi sáu triệu, hai trăm bốn mươi sáu ngàn, ba trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó: nợ gốc 29.920.526 đồng và lãi phát sinh 19.379.699 đồng; lãi phạt 3… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Kiên Long kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Xuân Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long đối với ông Nguyễn Xuân Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HSST
Ngày 10.9.2020
V/v “Tranh chấp HĐ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Lệ và ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2020/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/QĐST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Kiên Long; địa chỉ 40-42-44 Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.Người đại diện theo pháp luật ông Trần Tuấn Anh, chức vụ: Tổng giám đốc. Ông Trần Tuấn Anh ủy quyền cho bà Lê Thị Kim Liên, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Kiên Long, chi nhánh Đà Nẵng (theo Quyết định số 1203/QĐ-NHKL ngày 24.4.2018). Bà Lê Thị Kim Liên ủy quyền cho ông Đinh Mạnh Hưng - Chức vụ: Phó phòng Kinh doanh Ngân hàng TMCP Kiên Long - Chi nhánh Đà Nẵng; địa chỉ liên hệ: 158-160 Nguyễn Văn Linh, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng (Theo giấy ủy quyền số 116/UQ-CNĐN ngày 27.03.2020). (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Thanh P - sinh năm 1990; trú tại: 428 Nguyễn Lương Bằng, phường HHN, quận L, TP. Đà Nẵng. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 08 tháng 4 năm 2020, tại Bản tự khai ngày 20 tháng 5 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đinh Mạnh Hưng (Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long (viết tắt là Ngân hàng Kiên Long)) trình bày:

Vào ngày 21/03/2017, ông Nguyễn Xuân Thanh P, địa chỉ Tổ 12, phường HHN, quận L, TP Đà Nẵng đã vay Ngân hàng TMCP Kiên Long - CN Đà Nẵng, cụ thể như sau: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLB số: 20017080000170.

- Hạn mức thẻ tín dụng: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn). Mục đích vay vốn: tiêu dùng - mở hạn mức thẻ Visa. Ngày mở thẻ: 21/03/2017, ngày đến hạn: 21/03/2020. Thời hạn vay vốn: 36 tháng.

- Lãi suất vay: Theo quy định hiện hành của KLB.(Quyết định số 3191/QĐ-NHKL ngày 26.10.2016 của Ngân hàng Kiên Long)

- Lãi suất nợ quá hạn: Theo quy định hiện hành của KLB.(Quyết định số 3184/QĐ-NHKL ngày 26.10.2016 của Ngân hàng Kiên Long)

- Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên: Cho vay tín chấp.

Tại Đơn kiện, Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Xuân Thanh P phải trả số tiền đến ngày 24/03/2020 theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLB số: 2017080000170 cụ thể như sau: Vốn gốc : 7.680.075 đồng; Lãi + phí: 66.210.227 đồng;

Tổng cộng: 73.890.302 đồng (Bảy mươi ba triệu, tám trăm chín mươi ngàn, ba trăm lẻ hai đồng chẵn).

Tuy nhiên, có sự nhầm lẫn trong việc đánh máy, nên số tiền đúng tại ngày 24/03/2020 là:Vốn gốc: 29.920.526 đồng; Lãi + phí : 43.969.776 đồng;

Tổng cộng: 73.890.302 đồng (Bảy mươi ba triệu, tám trăm chín mươi ngàn, ba trăm lẻ hai đồng chẵn).

Trường hợp ông Nguyễn Xuân Thanh P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng kính đề nghị Quý Tòa xử lý theo quy định của Pháp luật.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày: Ông Nguyễn Xuân Thanh P chỉ trả cho Ngân hàng được 7.379.474 đồng nợ gốc, 2.734.528 đồng nợ lãi; 485998 đồng lãi phạt và bổ sung yêu cầu: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc ông P trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử ( Ngày 10 tháng 9 năm 2020) là 86.246.374 đồng, trong đó: nợ gốc 29.920.526 đồng, nợ lãi 19.379.699 đồng; lãi phạt 36.946.149 đồng và tiền lãi phát sinh của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLB số 20017080000170 ngày 21/3/2017 kể từ ngày 11.9.2020 cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

* Bị đơn là ông Nguyễn Xuân Thanh P không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hòa giải.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đại diện Ngân hàng TMCP Kiên Long kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn ông Nguyễn Xuân Thanh P không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

-Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử là 86.246.374 đồng (tám mươi sáu triệu, hai trăm bốn mươi sáu ngàn, ba trăm bảy mươi bốn đồng) và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLB số 20017080000170 ngày 21/3/2017 kể từ ngày 11.9.2020 cho đến ngày thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng TMCP Kiên Long.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

.Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Kiên Long với ông Nguyễn Xuân Thanh P thuộc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 10.9.2020 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân Thanh P, nhưng ông Nguyễn Xuân Thanh P vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Xuân Thanh P.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Kiên Long với ông Nguyễn Xuân Thanh P, Hội đồng xét xử thấy:

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Xuân Thanh P không văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Kiên Long. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào ngày 17 tháng 01 năm 2017, Vào ngày 21/03/2017, ông Nguyễn Xuân Thanh P, địa chỉ tổ 12, phường HHN, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng đã vay Ngân hàng TMCP Kiên Long - CN Đà Nẵng, cụ thể như sau: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLB số: 20017080000170; Hạn mức thẻ tín dụng: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn); Mục đích vay vốn: tiêu dùng - mở hạn mức thẻ Visa; Ngày mở thẻ: 21/03/2017, ngày đến hạn: 21/03/2020; Thời hạn vay vốn: 36 tháng.Căn cứ vào Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Xuân Thanh P là hợp pháp, xác định ông P có vay của Ngân hàng Kiên Long số tiền 30.000.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ Visa, ông P không thực hiện việc thanh toán lãi và vốn theo cam kết cho Ngân hàng Kiên Long do đó đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế đã ký. Do ông Nguyễn Xuân Thanh P đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản về thời hạn thanh toán nợ được quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Kiên Long, buộc ông P phải thanh toán toàn bộ số tiền là 86.246.374 đồng (tám mươi sáu triệu, hai trăm bốn mươi sáu ngàn, ba trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó: nợ gốc là 29.920.526 đồng và lãi phát sinh 19.379.699 đồng; lãi phạt 36.946.149 đồng tính đến ngày 10.9.2020 là hoàn toàn có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Lãi được tiếp tục tính từ ngày 11 tháng 9 năm 2020 theo mức lãi suất do Ngân hàng Kiên Long và ông P đã thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLB số: 20017080000170 ngày 21.3.2017 và bản điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank trên số tiền nợ chưa thanh toán cho đến khi thi hành án xong.

Án phí Dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.312.000 đồng (bốn triệu ba trăm mười hai đồng )

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: các Điều 299, 323, 463, 466, 468 và 688 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 92, khoản 2 Điều 227, các điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long đối với ông Nguyễn Xuân Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử: Buộc ông Nguyễn Xuân Thanh P phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long số tiền nợ tính đên ngày 10.9.2020 là 86.246.374 đồng (tám mươi sáu triệu, hai trăm bốn mươi sáu ngàn, ba trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó: nợ gốc 29.920.526 đồng và lãi phát sinh 19.379.699 đồng; lãi phạt 36.946.149 đồng.

Lãi được tiếp tục tính từ ngày 11 tháng 9 năm 2020 theo mức lãi suất do Ngân hàng Kiên Long và ông P đã thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLB số: 20017080000170 ngày 21.3.2017 và bản điều khoản và điều kiện sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank trên số tiền nợ chưa thanh toán cho đến khi thi hành án xong.

2. Án phí dân sự sơ thẩm là 4.312.000 đồng (bốn triệu ba trăm mười hai đồng ) ông P phải chịu.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long số tiền tạm ứng án phí 1.847.000 (Một triệu tám trăm bốn mươi bảy ngàn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0004305 ngày 13 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ