vanban.org

Bản án 09/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Tuyên án 24/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo C.Q.V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt C.Q.V 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (16/12/2019). Tuyên bố: Bị cáo N.Q.D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo CQV phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo C.Q.V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THÁI HÒA
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2020/HSST
Ngày: 24/03/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Nhật

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông : Võ Chí Công

2. Bà: Phan Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị An- Thư ký tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Ngân- Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 24/03/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/HSST ngày 09/03/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09 ngày 12 tháng 03 năm 2020 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên:

C.Q.V, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 30 tháng 08 năm 1985 tại: Thị xã T.H, tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký HKTT: Tổ 51, phường A.H.Đ, Quận S.T, Thành phố Đà Nẵng Chỗ ở hiện nay: xóm H.P, xã T.H, Thị xã T.H, Tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: C.Đ.H – Sinh năm: 1963; Nghề nghiệp: Lái xe; Trú tại: xóm H.P, xã T.H, Thị xã T.H, Tỉnh Nghệ An. Họ tên mẹ: L.T.H - Sinh năm: 1963; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ 51, phường A.H.Đ, Quận S.T, Thành phố Đà Nẵng. Anh chị em ruột: Gia đình có 02 người con, bị cáo là út.Vợ, con: chưa có. Tiền án: Ngày 28/08/2018, C.Q.V bị TAND huyện Quỳ Hợp, Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ra trại ngày 26/10/2018. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. 2. Họ và tên:

N.Q.D, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 22 tháng 07 năm 1984 tại: Thị xã T.H, tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khối Q.T, phường H.H, Thị xã T.H, Tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: N.Q.H-Đã chết. Họ tên mẹ: N.T.Q - Sinh năm: 1961; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Anh chị em ruột: Gia đình có 03 người con, bị cáo là con đầu. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: + Ngày 28/6/2013 bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 16/02/2015.

+ Ngày 20/05/2016 bị Công an phường Hòa Hiếu, Thị xã Thái Hòa, Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo N.Q.D bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2019 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông T.Đ.T- sinh năm 1958 Trú tại: Khối 4, phường L.S, thị xã T.H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

N.Q.D (sinh năm 1984, trú tại Khối Q.T, phường H.H, Nghệ An) và C.Q.V (SN 1985, Trú tại: Xóm H.P, xã T.H, Thị xã T.H) đều là người nghiện ma túy. Vì muốn có ma túy sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện nên vào khoảng 09 giờ ngày 16/12/2019, N.Q.D đến nhà T.Đ.T (SN: 1958, trú tại Khối 4, phường L.S, Thị xã T.H, Nghệ An) và mượn của T.Đ.T 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, mang BKS 37B2 – 05604 để đi công việc (N.Q.D không nói cho T.Đ.T biết là đi công việc gì). T.Đ.T đồng ý cho N.Q.D mượn chiếc xe máy trên. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, N.Q.D điều khiển chiếc xe máy trên đến nhà C.Q.V để chơi. Tại đây, C.Q.V rủ N.Q.D đi lên huyện Quỳ Hợp, Nghệ An mua ma túy về để cùng nhau sử dụng. N.Q.D đồng ý. Sau khi bàn bạc, thống nhất C.Q.V góp số tiền là 350.000 đồng, N.Q.D góp số tiền 150.000 đồng, tổng số tiền là 500.000 đồng để cùng nhau đi mua ma túy. N.Q.D điều khiểu chiếc xe mô tô mượn của T.Đ.T chở C.Q.V đi lên khu vực 3-2 thuộc xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, N.Q.D dừng xe lại đứng đợi; còn C.Q.V một mình đi bộ và tìm mua của một người đàn ông (V không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói giấy vở học sinh, kích thước (2 x 2) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng là heroin với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C.Q.V cất giấu gói ma túy bên trong túi áo khoác bên phải mà V đang mặc và cùng N.Q.D đi về Thị xã Thái Hòa để tìm nơi sử dụng. Đến 12 giờ 40 phút cùng ngày, khi C.Q.V và N.Q.D đi đến đoạn đường thuộc Khối Dốc Cao, phường Quang Tiến, Thị xã Thái Hòa thì bị Tổ công tác Công an Thị xã Thái Hòa bắt quả tang, thu giữ bên trong trong túi áo khoác bên phải mà V đang mặc 01 gói giấy vở học sinh, kích thước (2 x 2) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng (V và D khai nhận là heroin). Tổ công tác Công an Thị xã Thái Hòa đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng sau đó dẫn giải C.Q.V và N.Q.D về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an Thị xã Thái Hòa để điều tra làm rõ.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định của cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa xác định: Tổng khối lượng chất bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thu giữ của C.Q.V và N.Q.D có khối lượng 0,34 gam (không phẩy ba mươi tư gam).

Ngày 19/12/2019, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa ra Quyết định Trưng cầu giám định số 02 giám định số chất bột màu trắng thu giữ của C.Q.V và N.Q.D.

Tại bản Kết luận giám định số 34/KL-PC09(MT) ngày 22/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận mẫu chất bột màu trắng thu giữ của C.Q.V và N.Q.D gửi tới giám định là ma túy (heroin).

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 06/03/2020 của VKSND thị xã Thái Hòa đã truy tố: C.Q.V và N.Q.D về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS xử phạt: C.Q.V từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS xử phạt: N.Q.D từ 14 tháng đến 17 tháng tù.Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo. Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử :

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm được niêm phong theo quy định, bên trong có chứa 0,28 gam (không phẩy hai mươi tám gam) Hêrôin còn lại sau khi đã gửi đi giám định thu giữ của C.Q.V và N.Q.D và vỏ giấy niêm phong. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tại phiên tòa các bị cáo đều nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Thái Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo C.Q.V và N.Q.D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ. Như vậy có đủ căn cứ để khẳng định:

C.Q.V và N.Q.D là đối tượng nghiện chất ma túy. Để có ma túy sử dụng, vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/12/2019, C.Q.V và N.Q.D bàn bạc, thống nhất C.Q.V góp số tiền là 350.000 đồng, N.Q.D góp số tiền 150.000 đồng, (tổng số tiền là 500.000 đồng) để cùng nhau đi mua ma túy đi mua ma túy về sử dụng. N.Q.D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, mang BKS 37B2 – 05604 chở C.Q.V lên khu vực 3-2 thuộc xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An mua của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói heroin với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy D chở V về đến khu vực Khối Dốc Cao, phường Quang Tiến, Thị xã Thái Hòa, Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an Thị xã Thái Hòa bắt quả tang thu giữ 0,34 gam (không phẩy ba mươi tư) gam heroin do V và D tàng trữ để sử dụng.

. Hành vi của C.Q.V và N.Q.D đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội, vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Các bị cáo đều là đối tượng đã được pháp luật giáo dục cải tạo về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là người nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu bất chính của mình nên vẫn lao vào con đường phạm tội. C.Q.V tiếp tục phạm tội khi chưa đủ thời gian xóa án tích của bản án trước, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật, cần phải cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục riêng các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét sau khi phạm tội quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, do đó cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định pháp luật.

Đối với loại tội phạm này theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS ngoài hình phạt chính cac bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhưng xét các bị cáo là đối tượng nghiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt tiền cho hai bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa thu giữ của C.Q.V và N.Q.D 0,34 gam heroin và đã lấy 0,06 gam ma túy để trưng cầu giám định. Số vật chứng còn lại là 0,28 gam ma túy và vỏ giấy niêm phong được niêm phong lại và bảo quản đúng quy định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, mang BKS 37B2 – 05604 thu giữ của N.Q.D. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy này hiện tại thuộc sở hữu của ông T.Đ.T. Ông T cho N.Q.D mượn chiếc xe này để sử dụng, việc D sử dụng xe máy để thực hiện hành vi phạm tội ông T không biết nên Cơ quan CSĐT Công an Thị xã Thái Hòa đã trả lại cho ông T theo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông mà C.Q.V khai nhận đã bán cho V 01 gói Heroin vào ngày 16/12/2019 tại khu vực 3-2 thuộc xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An với giá 500.000đ, vì không rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo C.Q.V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt C.Q.V 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (16/12/2019).

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo N.Q.D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt N.Q.D 15(Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (16/12/2019).

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư kích thước (18 x 10) cm được niêm phong theo quy định, bên trong có chứa 0,28 gam (không phẩy hai mươi tám gam) Hêrôin còn lại sau khi đã gửi đi giám định thu giữ của C.Q.V và N.Q.D và vỏ giấy niêm phong (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/03/2020 có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa).

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc các bị cáo C.Q.V và N.Q.D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Cỡ chữ