- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HSST Ngày: 20/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mông Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Như Hoa và ông Trần Viết Tỵ
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/HSST, ngày 14 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh ngày 09 tháng 11 năm sinh 1990, tại Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn CH, xã CH, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Tổ 5 phố Ngọc, xã Trung Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Có bố là Nguyễn Văn Chính sinh năm 1962 và mẹ là Nguyễn Thị Đông sinh năm 1963. Có vợ là Hoàng Thị Trang sinh năm 1988(đã ly hôn) và 01 con tên là Nguyễn Hoàng Tùng Anh sinh năm 2008. Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện K S – Hòa Bình xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/HSST ngày 29/3/2011.
Bị cáo bị giam giữ, tam giam từ ngày 06/11/2019 đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: anh Bùi Tiến H, sinh năm 1984; trú tại: Xóm 9, xã S N, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình: Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 06/11/2019, N đang ngồi ở quán nước thuộc công viên xã S N, thành phố Hòa Bình thì có một người đàn ông lạ mặt, không rõ tên tuổi, địa chỉ, đưa cho N 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) nhờ mua hộ ma túy và hứa sẽ cho N cùng sử dụng sau khi mua được ma túy; N đồng ý cầm tiền của người này, đi đến khu vực cổng bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hòa Bình, N gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ tên tuổi, địa chỉ, trao đổi và mua của người này một gói ma túy với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Nghĩa cầm ma túy trong lòng bàn tay phải, trên đường đi quay lại quán nước ở công viên thuộc xóm 6, xã S N, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thì bị đội cảnh sát điều tra về ma túy Công an thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của N một gói giấy nghi là ma túy, sau đó tổ công tác đã đưa N về trụ sở Công an xã Sủ Ngòi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Bản kết luận giám định số: 343/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 13/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong ghi tên Nguyễn Văn N gửi giám định có khối lượng 0,32g (Không phẩy ba mươi hai gam) là ma túy, loại Heroine”
Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 13/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử phạt Nguyễn Văn N từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị tịch thu tiêu hủy số Heroine hoàn trả sau giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu được; kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: ngày 06/11/2019, Nguyễn Văn N đã có hành vi mua, cất giấu 0,32 gam chất ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức được việc mua và cất giấu, sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Hòa Bình xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 03/HSST, căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích nên không có tiền án, tiền sự.
. Về quyết định hình phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N là người có đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra; Khi áp dụng hình phạt cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
. Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo, còn lại sau khi giám định cần tịch thu tiêu hủy.
. Về hành vi của những cá nhân khác trong vụ án: Đối với người đàn ông mà bị cáo khai đã mua ma túy của người này và người đàn ông bị cáo khai đã đưa cho bị cáo 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) nhờ bị cáo mua hộ ma túy, do không xác định được lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ giải quyết trong vụ án này. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý;
Xử phạt: Nguyễn Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 06/11/2019 ( là ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam).
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong ghi tên Nguyễn Văn N.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 40/BB ngày 17/02/2020).
3.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND thành phố HB; - VKSND tỉnh HB; - Công an thành phố HB; - Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án DS TPHB; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |