vanban.org

Bản án 09/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Hữu L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 31/10/2019. Vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HSST
Ngày 14/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Hùng

Bà Nguyễn Thị Hường

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Văn Đông – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2019/TLST – HS ngày 26 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST–HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Hữu L. Tên gọi khác: không; Sinh ngày 03 tháng 4 năm 1961 tại huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Trú tại: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Hữu M và bà Trần Thị Y (đều đã chết); Vợ: Hoàng Thị Ng, con: 01 người; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 13/6/2005 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 02/8/2011 Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 31 tháng 10 năm 2019 đến nay.

(Có mặt)

+ Người làm chứng: Chị Trần Thị Ch. Sinh năm 1993

Trú tại: Bản Nh, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 11 giờ ngày 31/10/2019 tại khối 14, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Công an huyện Quỳ Hợp phát hiện Lê Hữu L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ được trong người Lê Hữu L 01 gói polyetylen bên trong chứa 31 gói chất bột màu trắng nghi heroine. Công an huyện Quỳ Hợp tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Lê Hữu L, đồng thời thu giữ 01 chiếc xe máy, 01 chiếc điện thoại di động và số tiền 2.000.000,đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Hữu L thu giữ gồm: 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi heroin; 99 viên nén màu hồng (trên mỗi viên có dập chữ WY); 02 nửa viên nén màu hồng; 02 viên nén màu xanh (trên mỗi viên có dập chữ A).

Tại phiên tòa Lê Hữu L khai nhận: Là người nghiện ma túy nên để có ma túy sử dụng, khoảng 7 ngày trước khi bị bắt Lê Hữu L lên huyện T, tỉnh Nghệ An mua ma túy gồm heroine và nhiều viên ma túy methamphetamine của một người phụ nữ không quen biết. Lê Hữu L cất giữ ma túy trong nhà mình để sử dụng dần. Ngày 31/10/2019 Lê Hữu L đưa xe máy đi sửa thì gặp chị Trần Thị Ch – là người quen của L. L mượn xe máy chị Ch đi về nhà mình lấy 31 gói ma túy đưa đi sử dụng dần. Khi Lê Hữu L đang đi lưu thông trên đường thuộc khối 14 thị trấn Quỳ Hợp thì bị Công An phát hiện bắt giữ.

Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập ngày 31/10/2019 tại Công an huyện Quỳ Hợp xác định:

- 31 gói giấy bên trong có chứa chất bột nén màu trắng có khối lượng 12,580 gam. Công an huyện Quỳ Hợp đã lấy 0,425 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định (ký hiệu M1).

- 99 viên nén màu hồng dập chữ WY và 02 nửa viên nén màu hồng có khối lượng 10 gam. Công an huyện Quỳ Hợp đã lấy 05 viên có khối lượng 0,5 gam gửi giám định (Ký hiệu M2).

- 02 viên nén màu xanh dập chữ A có khối lượng 0,185 gam.

Công an huyện Quỳ Hợp đã lấy toàn bộ gửi giám định (Ký hiệu M3).

- 01 gói nhỏ màu vàng bên trong có chứa chất bột nén màu trắng có khối lượng 0,035 gam. Công an huyện Quỳ Hợp đã lấy toàn bộ gửi giám định (Ký hiệu M4).

Kết luận giám định số 1395/KL-PC09(MT) ngày 06/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công An tỉnh Nghệ An kết luận:

- Mẫu chất bột nén màu trắng ký hiệu M1 thu giữ của Lê Hữu L gửi tới giám định là ma túy (heroine), có tổng khối lượng là 12,580 gam.

- Mẫu viên nén màu hồng ký hiệu M2 thu giữ khi khám xét nơi ở của Lê Hữu L gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 10 gam.

- Mẫu viên nén màu xanh ký hiệu M3 thu giữ khi khám xét nơi ở của Lê Hữu L gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng 0,185 gam.

- Mẫu chất bột nén màu trắng ký hiệu M4 thu giữ khi khám xét nơi ở của Lê Hữu L gửi tới giám định là ma túy (heroine), có tổng khối lượng 0,035 gam.

Bản cáo trạng số 03/CT - VKS - HS ngày 24/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Lê Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt Lê Hữu L từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 12,155 gam heroine và 9,5 gam Methamphetamine.

Bị cáo Lê Hữu L nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về Tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội:

Căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/10/2019; Biên bản khám xét ngày 31/10/2019; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 31/10/2019 tại Công an huyện Quỳ Hợp; Kết luận giám định số 1395/KL-PC09(MT) ngày 06/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công An tỉnh Nghệ An và các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra đã thu thập được tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 31/10/2019 Lê Hữu L có hành vi tàng trữ 12,615 gam heroine và 10,185 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Tổng khối lượng ma túy mà Lê Hữu L tàng trữ là 22,8 gam.

Hành vi trên của Lê Hữu L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo Lê Hữu L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma tuý, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 2 lần bị Tòa án xử phạt tù. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Lê Hữu L không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý. Chị Trần Thị Ch không biết việc Lê Hữu L dùng xe mô tô của mình khi đang tàng trữ ma túy nên không xem xét xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000,đ đến 500.000.000,đ”. Xét thấy, gia đình bị cáo là hộ cận nghèo, bản thân bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

- Xe mô tô biển kiểm soát 37H1 – 365.37 thuộc sở hữu của chị Trần Thị Ch, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Trần Thị Ch.

- Điện thoại di động và số tiền 2.000.000,đ thu giữ tại bị cáo, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo.

- Vật chứng là số heroine, methamphetamine còn lại (sau khi trừ đi số heroine, methamphetamine đi giám định) cùng vỏ bao niêm phong, giấy gói, bao gói, hộp nhựa cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, do đó bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Hữu L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 31/10/2019.

2. Vật chứng:

Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 12,155 gam heroin, 9,5 gam Methamphetamine cùng vỏ bao niêm phong, giấy gói, bao gói, hộp nhựa. (Chi tiết các loại tài sản trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Lê Hữu L không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ