- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hà Văn H (T) 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2019.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 52 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày: 11-5-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Hoài Việt;
2/ Ông Nguyễn Ngọc Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sự – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Hà Văn H (tên gọi khác là T), sinh ngày 13 tháng 5 năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú hiện nay: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn D sinh năm 1967 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1971; Vợ: Chưa có.
Tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 36/2013/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2013 của TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử Hà Văn H 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tổng hợp Bản án Hình sự sơ thẩm số: 63/2012/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2010 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Hà Văn H phải chấp hành hình phạt chung 05 năm tù.
Tiền sự: Ngày 05 tháng 12 năm 2018, Công an xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính Hà Văn H số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đã nộp phạt xong ngày 10/12/2018. Bị cáo bị bắt 03/8/2019; chuyển tạm giam ngày 07/8/2019 đến nay; bị cáo có mặt.
2. Phạm Trí D2, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú hiện nay: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phi L sinh năm 1977 và bà Phạm Thị N sinh năm 1974; Vợ: không có; tiền án: không có.
Tiền sự: Ngày 21 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh, xã Đức Hạnh, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; thời gian 12 tháng; tháng 5/2019, D2 trở về địa phương đến ngày bị bắt. Bị cáo bị bắt ngày 03/8/2019; chuyển tạm giam ngày 07/8/2019 đến nay; bị cáo có mặt;
3. Đặng Hoàng P (tên gọi khác G), sinh ngày 21 tháng 9 năm 1995, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú hiện nay: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C sinh năm 1971 và bà Võ Thị L2 sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; tiền án: không có.
Tiền sự: Quyết định số: 12/QĐ-TA ngày 30-01-2018 của TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy ấp Tân Lợi, xã Tân Hưng, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Bị cáo bị bắt ngày 03/8/2019; chuyển tạm giam ngày 07/8/2019 đến nay; bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trí D2 theo luật quy định: Luật sư Huỳnh Văn S, Văn phòng Luật sư T; Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh; có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn H theo luật quy định: Luật sư Lê Nguyễn Kim H; Văn phòng Luật sư L địa chỉ: Số 658, ấp L3 Bình, xã L3 Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Đầu tháng 7 năm 2019, Hà Văn H rủ Đặng Hoàng P mua bán trái phép ma túy để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng, P đồng ý. H đến khu vực cầu vượt ngã tư An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy của tên Vân 04 lần (không rõ họ tên, địa chỉ của tên Vân); mỗi lần mua 01 bịch ma túy giá 8.000.000 đồng. H đem ma túy về nhà phân nhiều bịch nhỏ bán và giao cho P một phần ma túy cất giữ, có người mua H sẽ kêu P đem bán và tiền giao cho H, cụ thể:
Từ ngày 06/7/2019 đến ngày 01/8/2019, H và P bán ma túy cho những đối tượng sau:
1/ Lê Hoàng N2 4 lần, mỗi lần 01 bịch với giá từ 200.000 đồng đến 3.300.000 đồng; tại khu vực ấp An Bình, ấp Bàu Mây, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
2/ Lê Thị N3 07 lần, mỗi lần 01 bịch giá 1.600.000 đồng, tại ấp Lộc Thanh, xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh;
3/ Nguyễn Hận H3 02 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng và 300.000 đồng, tại ấp Lộc Thanh, xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh;
4/ Trần Thanh L3 01 bịch số tiền 1.600.000 đồng, tại khu vực ấp Gia Huỳnh, xã Gia Lộc và ấp An Bình, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh;
5/ Trần Minh D3 02 lần 02 bịch giá 800.000 đồng và 1.000.000 đồng, những lần bán ma túy, H cho P tiền và ma túy sử dụng
Ngày 02/8/2019, để có lợi nhuận nhiều hơn, P mua ma túy của H 01 bịch giá 2.800.000 đồng để bán riêng 1 mình, phân nhiều bịch nhỏ bán cho đối tượng sử dụng. Ngày 03/8/2019 khoảng 10 giờ 00 phút, tại khu vực trước cổng Trạm y tế thuộc ấp An Bình, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; P bán ma túy cho N2 01 bịch giá 300.000 đồng; đến 20 giờ 30 phút ngày 03/8/2019, P tiếp tục bán ma túy cho N2 01 bịch giá 300.000 đồng và bị bắt quả tang; số ma túy còn lại Cơ quan điều tra khám xét thu giữ.
Khi P tách ra bán ma túy riêng, Hà Văn H rủ Phạm Trí D2 cùng bán ma túy, D2 đồng ý. Ngày 02/8/2019, H kêu D2 đến gặp P nhận lại 01 bịch ma túy cất giữ để bán. Khoảng 20 giờ ngày 02/8/2019, H kêu D2 phân bịch ma túy 01 bịch nhỏ đem đến khu vực ấp An Bình, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bán cho N3 số tiền 1.600.000 đồng. Đến khoảng 11giờ ngày 03/8/2019, H tiếp tục kêu D2 phân ra thêm 01 bịch ma túy nhỏ đem đến khu vực ấp An Bình, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bán cho N3 số tiền 1.600.000 đồng; D2 giao số tiền 3.200.000đồng cho H và H chia cho D2 số tiền 600.000 đồng; số tiền còn lại H đi mua ma túy về bán tiếp; H kêu D2 đến nhà N3 đợi H đem ma túy về. Khoảng 20 giờ ngày 03/8/2019, H đem bịch ma túy đến chỗ ở của N3 và phân ra 01 bịch ma túy bán cho N3 giá 1.600.000 đồng nhưng chưa giao ma túy cho N3 thì bị bắt quả tang; thu giữ dưới nền gạch chỗ H ngồi 02 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt được niêm phong (ký hiệu M1, M2); thu giữ trong túi áo khoác màu đen trước ngực bên trái của Phạm Trí D2 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt, được niêm phong (ký hiệu M3); thu giữ của H và D2 nhiều đồ vật, tài sản có liên quan.
Tại Kết luận giám định số: 1120/KL-KTHS ngày 06/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể kí hiệu M1 chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,8202 gam; mẫu tinh thể kí hiệu M2 chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 43,4503 gam; mẫu tinh thể kí hiệu M3 chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,6214 gam. Tổng khối lượng: 44,8919 gam Methamphetamine.
Vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 03 tháng 8 năm 2019, tại khu vực ấp An Bình, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bắt Đặng Hoàng P đang bán ma túy trái phép 01 bịch cho Lê Hoàng N2 giá 300.000 đồng; thu giữ của N2 01 bịch nylon trong suốt có viền đỏ, được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt được niêm phong (ký hiệu M1). Khám xét chỗ ở của P thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín có viền đỏ, bên trong chứa tinh thể trong suốt, được niêm phong (ký hiệu M2) và đồ vật, tài sản có liên quan.
Tại Kết luận giám định số: 1121/KL-KTHS ngày 06/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể kí hiệu M1 là ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,0562 gam; mẫu tinh thể kí hiệu M2 chất ma túy Methamphetamine,khối lượng 2,4431 gam. Tổng: 2,4993 gam Methamphetamine.
* Vật chứng đã thu giữ: Có bảng kê vật chứng kèm theo.
* Kê biên tài sản: Các bị cáo không có tài sản nên không kê biên.
Cáo trạng số: 18/CT-VKSTD-P1 ngày 28-11-2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố: Bị cáo Hà Văn H, Phạm Trí D2 tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Hoàng P bị truy tố tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội và xác nhận vật chứng bị thu giữ như nội dung của Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày quan điểm:
- Xác định số tiền bị cáo Phạm Trí D2 thu lợi 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng;
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
+ Căn cứ điểm b khoản 3, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hà Văn H(Tề thiên) từ 17 năm đến 18 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng
+ Căn cứ điểm b khoản 3, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Trí D2 từ 16 năm đến 17 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng
+ Căn cứ điểm b khoản 2, 5 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Hoàng P (P gà) từ 12 năm đến 13 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng
Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ Luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo Hà Văn H trình bày:
Bị cáo phạm tội như Cáo trạng truy tố là đúng cũng như Viện kiểm sát luận tội. Số tiền thu lợi bất chính không lớn trong thời gian dài, thu nhiều lần chủ yếu để chi phí sinh hoạt. Bị cáo thành khẩn khai báo, tự thú hành vi của mình xảy ra từ tháng 7/2019; giúp Cơ quan điều tra kết thúc vụ án là ăn năn, hối cải; đề nghị áp dụng điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vai trò các bị cáo giản đơn, cha mẹ bị cáo ly thân, sống với bà nội đã hạn chế sự giáo dục. Hình phạt quá nghiêm khắc, đề nghị áp dụng Điều 54; khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Trí D2 trình bày: Không tranh luận hành vi phạm tội; đề nghị xem xét hình phạt. Nhân thân: kinh tế gia đình khó khăn, mẹ bệnh nặng, cha mẹ sống riêng thiếu sự quan tâm giáo dục; ăn năn, hối cải.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức án thấp hơn mức án do Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận:
Khoảng 20 giờ ngày 03/8/2019, bị cáo H đang bán trái phép chất ma túy cho Lê Thị N3 số tiền 1.600.000 đồng đã bị bắt quả tang; thu giữ dưới nền gạch chỗ bị cáo H ngồi 02 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt. Nguồn ma túy do bị cáo H mua tại ngã tư An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh của tên V (không rõ họ tên thật, địa chỉ). Từ ngày 06/7/2019 đến ngày 01/8/2019, bị cáo H mua ma túy của tên Vân 4 lần, mỗi lần mua 1 bịch giá 8.000.000 đồng và phân nhiều bịch nhỏ giao cho bị cáo P và bị cáo D2 cất giữ để bán. Bị cáo H và bị cáo P bán cho nhiều đối tượng sử dụng ma túy như N2 4 lần, N3 7 lần, Hoài 2 lần, D3 2 lần, L3 1 lần. Bị cáo H và bị cáo D2 bán túy cho N3 3 lần, bị cáo D2 trực tiếp bán cho N3 2 lần, bị cáo H trực tiếp bán cho N3 1 lần.
Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 03 tháng 8 năm 2019, tại khu vực ấp An Bình, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Đặng Hoàng P đang bán ma túy trái phép cho Lê Hoàng N2 1 bịch giá 300.000 đồng; thu giữ của N2 01 bịch nylon trong suốt có viền đỏ, được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt. Khám xét chỗ ở của P thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín có viền đỏ, bên trong chứa tinh thể trong suốt.
Tại Kết luận giám định số:1120/KL-KTHS ngày 06/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể kí hiệu M1 thu của bị cáo H là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,8202 gam; mẫu tinh thể kí hiệu M2 là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 43,4503 gam; mẫu tinh thể kí hiệu M3 thu của bị cáo H là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng khối lượng 0,6214 gam. Tổng khối lượng: 44,8919 gam ma túy loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số: 1121/KL-KTHS ngày 06/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể kí hiệu M1 thu của bị cáo P là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,0562 gam; mẫu tinh thể kí hiệu M2 thu của bị cáo P là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,4431gam. Tổng khối lượng 2,4993 gam loại Methamphetamine.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận hai bị cáo Hà Văn H, Phạm Trí D2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Hoàng P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Các bị cáo đều có tiền sự về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa đều khai nhận biết việc mua bán ma túy là pháp luật nghiêm cấm và tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện là xem thường pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý. Trong thời gian ngắn, các bị cáo mua bán trái phép ma túy nhiều lần (trên 15 lần), trên nhiều địa bàn của huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; gây mất trật tự trị an xã hội; xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho nhiều đối tượng sử dụng với khối lượng ma túy như sau:
Bị cáo H trực tiếp mua ma túy về bán; bị cáo H và bị cáo P bán ma túy cho N2 4 lần, N3 7 lần, Hoài 2 lần, D3 2 lần, L3 1 lần; đến ngày bị bắt quả tang bị cáo H bán ma túy cho Lê Thị N3 có khối lượng 44,8919 gam loại Methamphetamine.
Bị cáo Phạm Trí D2 trực tiếp bán ma túy cho Lê Thị N3 2 lần;
Bị cáo Nguyễn Hoàng P và bị cáo H bán trái phép ma túy cho nhiều đối tượng sử dụng ma túy như N2 4 lần, N3 7 lần, Hoài 2 lần, D3 2 lần, L3 1 lần. Bị cáo mua ma túy của bị cáo H với khối lượng 2,4993 gam loại Methamphetamine; bán cho Lê Minh Nhật 2 lần.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự khai những lần mua bán ma túy trước đó. Bị cáo Đặng Hoàng P có bác ruột là Liệt sĩ Đặng Văn B; theo Quyết định số: 1077/QĐ-TTg ngày 20-01- 1975; có ông bà nội cụ Đặng Văn M, cụ Nguyễn Thị D4 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; theo Quyết định số: 310/KT-HĐNN ngày 07-12-1987; đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo H và bị cáo D2 phạm tội nhiều lần nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H đã bị kết án 5 năm tù theo Bản án Hình sự sơ thẩm số: 36/2013/HS-ST ngày 28-3-2013 của TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chấp hành xong án phạt tù ngày 31-8-2016; như vậy phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm, nên áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo P không áp dụng tình tiết tăng nặng, do bị cáo đã bị truy tố theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình với tình tiết định khung “phạm tội nhiều lần”.
Nhân thân: Bị cáo H có tiền sự về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”; theo Quyết định số: 76/QĐ-XPVPHC ngày 05-12-2018 của Trưởng Công an xã. Bị cáo Phạm Trí D2 đã bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; theo Bản án số: 127/2014/HS-ST ngày 5-11-2014, chấp hành xong án phạt tù ngày 25-12-2016 đã được xóa án tích theo điểm b khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; có tiền sự về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, theo Quyết định số: 205/QĐ-TA ngày 21- 5 -2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính ngày 21-5-2019. Bị cáo Đặng Hoàng P có tiền sự về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, theo Quyết định số: 12/QĐ-TA ngày 30-01 -2018 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninhh. Như vậy lần phạm tội này, các bị cáo chưa hết thời hạn xử phạt vi phạm hành chính.
Tại biên bản xác minh ngày 15-8-2019 tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (bút lục số 215, 234) thể hiện: bị cáo Hà Văn Hvà bị cáo Phạm Trí D2 “không có tài sản riêng về đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tại biên bản xác minh ngày 21-8-2019 tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Hưng, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thể hiện: bị cáo P “ không nghề nghiệp, không có tài sản và cũng không đứng tên chủ sở hữu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Như vậy không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng:
Vật chứng thu giữ của bị cáo Hà Văn H:
+ 01(một) bật lửa bằng kim loại màu đỏ-đen có chữ SamSung; 04 (bốn) bịch nylon trong suốt bịt kín, bên trong rỗng; 15 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ bịt kín, bên trong rỗng; đều không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu trắng bạc, số IMEI: 353288075297394, sim số 0971464563 đã qua sử dụng; bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc để mua bán trái phép ma túy nên tịch thu sung vào N3 sách Nhà nước.
+ Đối với số tiền 1.650.000 đồng, bị cáo mua bán ma túy có được nên tịch thu sung vào N3 sách Nhà nước.
Vật chứng thu giữ của bị cáo Phạm Trí D2:
+ 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, phía sau thân máy không có nắp đậy, màn hình bị vỡ, số sêri: E1MGAP27B2517840, bên trong không có sim; 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 356967092726157, số IMEI 2: 356967097726152, sim số 0969072053; 01(một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đỏ đen, số IMEI 1: 355000116284143, số IMEI 2: 355000116284150, sim số 0792225655 và 0867433245; đều đã qua sử dụng; bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc khi mua bán trái phép ma túy nên tịch thu sung vào N3 sách Nhà nước.
+ 01 bật lửa bằng kim loại màu nâu không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.
+ Tiền Việt Nam 100.000 (một trăm nghìn) đồng do mua bán ma túy mà có, nên tịch thu sung vào N3 sách Nhà nước.
Vật chứng thu giữ của bị cáo Đặng Hoàng P:
+ 10 (mười) bịch nylon trong suốt 1 đầu bịt kín, 1 đầu hở, bên trong rỗng không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.
+ Số tiền 1.750.000 (một triệu, bảy trăm, năm chục nghìn) đồng Việt Nam thu của bị cáo là do mua bán trái phép ma túy có được, tịch thu sung vào N3 sách Nhà nước.
+ Một (01) xe mô tô hiệu HAVICO, số máy 52FMHH624408, số khung H6UM6K624408, biển số: 70M1-4772 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 70M1-4772; bị cáo dùng làm phương tiện vận chuyển để mua bán trái phép ma túy, tịch thu sung vào N3 sách Nhà nước.
+ Hoàn trả cho bị cáo Giấy chứng minh nhân dân số 291098102 mang tên Đặng Hoàng P.
Vật chứng là chất ma túy:
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1120/KL-KTHS ngày 06-8-2019 (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M1); khối lượng còn lại sau giám định 0,7253 gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1120/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1120/KL-KTHS ngày 06-8-2019 (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M2); khối lượng còn lại sau giám định 43,0312gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1120/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1120/KL-KTHS ngày 06-8-2019 (gói 3) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M3); khối lượng còn lại sau giám định 0,5416 gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1120/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1121/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M2); khối lượng còn lại sau giám định 2,3174 gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1121/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
Là những vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Vật chứng là công cụ sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy sẽ quyết định trong phần quyết định của bản án.
Tại phiên toà Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị áp dụng điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phù hợp nên chấp nhận; Luật sư bào chữa cho bị cáo Hà Văn H đề nghị áp dụng Điều 54; khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là không phù hợp không chấp nhận; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Đối với người tên Vân chưa xác định được nhân thân, cơ quan chức năng làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do bị kết án theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Hà Văn H (T) 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2019.
2. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Trí D2 15 (mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2019.
3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng P (G) 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2019.
4. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 3, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung vào N3 sách Nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu trắng bạc, số IMEI: 353288075297394, sim số 0971464563(đã qua sử dụng);
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 356967092726157, số IMEI 2: 356967097726152, sim số 0969072053 đã qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đỏ đen, số IMEI 1: 355000116284143, số IMEI 2: 355000116284150, sim số 0792225655 và 0867433245 đã qua sử dụng;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, phía sau thân máy không có nắp đậy, màn hình bị vỡ, số sêri: E1MGAP27B2517840, bên trong không có sim đã qua sử dụng;
+ 01 (một) xe mô tô hiệu HAVICO, biển số 70M1-4772; số máy 52FMHH624408, số khung: H6UM6K624408 (đã qua sử dụng); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 70M1-4772 (đã qua sử dụng).
+ Số tiền 3.500.000 (ba triệu, năm trăm nghìn) đồng Việt Nam (theo 02 Giấy nộp tiền vào tài khoản; mỗi Giấy nộp tiền vào tài khoản số tiền 1.750.000 đồng, ngày 05-8-2019; có chữ ký của người nộp tiền Phạm Huỳnh Hữu Phong); hiện tại đã được nộp vào Kho bạc Nhà nước huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh vào ngày 05-8-2019.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1120/KL-KTHS ngày 06-8-2019 (gói 1) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M1); khối lượng còn lại sau giám định 0,7253 gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1120/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1120/KL-KTHS ngày 06-8-2019 (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M2);khối lượng còn lại sau giám định 43,0312gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1120/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1120/KL-KTHS ngày 06-8-2019 (gói 3) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M3); khối lượng còn lại sau giám định 0,5416 gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1120/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
+ 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 1121/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý Nguyễn Văn Đại (ký hiệu M2); khối lượng còn lại sau giám định 2,3174 gam chất ma túy loại Methamphetamine; theo Kết luận giám định số: 1121/ KL-KTHS ngày 06-8-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.
+ 04 (bốn) bịch nylon trong suốt bịt kín, bên trong rỗng; 15 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ bịt kín, bên trong rỗng; 04 (bốn) bịch nylon trong suốt, 1 đầu bịt kín, 1 đầu hở, bên trong rỗng; 10 (mười) bịch nylon trong suốt 1 đầu bịt kín, 1 đầu hở, bên trong rỗng; 08 bịch nylon trong suốt hở 2 đầu, bên trong rỗng; đều đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu đỏ; 06 cây kéo kim loại màu trắng; đều đã qua sử dụng.
+ 01 (một) cân điện tử màu đen đã qua sử dụng;
+ 01 (một) bật lửa màu trắng và 01 bình nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp có ống thủy tinh dạng phểu và ống hút nhựa màu trắng tím; 01(một) bật lửa bằng kim loại màu đỏ-đen có chữ SamSung; 01 bật lửa bằng kim loại màu nâu; 03(ba) bật lửa màu xanh; 02 bật lửa trên nắp đậy có chữ “HV”; đều đã qua sử dụng;
+ 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu vàng trắng đầu nhọn bên trong rỗng và 01 đoạn ống hút nhựa màu cam trắng 1 đầu nhọn bên trong rỗng; 01 ống nhựa màu xanh trắng, có đầu bịt kín, đầu nhọn, bên trong rỗng; đều đã qua sử dụng;
+ 02 Giấy nộp tiền vào tài khoản; mỗi Giấy nộp tiền vào tài khoản số tiền 1.750.000 đồng, ngày 05-8-2019; có chữ ký của người nộp tiền Phạm Huỳnh Hữu Phong; đều là bản photo.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Hoàng P: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 291098102 mang tên Đặng Hoàng P.
Tất cả vật chứng đang được Cục Thi hành án tỉnh Tây Ninh tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 09-01-2020.
5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hà Văn H, bị cáo Phạm Trí D2, bị cáo Đặng Hoàng P; mỗi bị cáo pH chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TANDCC; -VKSNDCC; -VKSND tỉnh Tây Ninh; -VP CQCSĐT CA tỉnh; -Phòng PV 27 CA Tây Ninh; -Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; -THADS tỉnh Tây Ninh; -Trại tạm giam; -Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú; -Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng khác; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Minh Châu |