- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đàm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày: 20-02-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hòa
2. Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Đàm Văn H, sinh ngày 31 tháng 01 năm 1975; Sinh trú quán: thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn V (đã chết) và bà Hoàng Thị K (đã chết); có vợ là Đỗ Thị H, sinh năm 1976 và có 02 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2002); Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Năm 2004 bị chủ tịch UBND huyện Yên Lạc quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 15/6/2005 H bỏ trốn khỏi Trung tâm giáo dục – lao động xã hội tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc) đến ngày 21/5/2007 H bị Công an huyện Yên Lạc bắt và bàn giao lại cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Sau đó, ngày 07/6/2007 H tiếp tục bỏ trốn khỏi Cơ sở cai nghiện đến ngày 11/6/2008 H bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Lạc bắt, tạm giam về hành vi “Cướp tài sản”.
+ Tại bản án số 32 ngày 19/11/2008, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt H 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 07/10/2015, H chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ bản án.
Bị bắt tạm giữ từ 01/12/2019 đến ngày 10/12/2019 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đàm Văn A, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 01/12/2019, Đàm Văn H điều khiển xe mô tô BKS: 51S2-7667 đi từ nhà ở của mình đến thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội với mục đích tìm xem có bạn nghiện nào đi mua ma túy sử dụng thì xin sử dụng cùng. Tuy nhiên, khi sang đến thị xã S thì H không gặp được bạn nghiện nào nên H điều khiển xe mô tô đi về nhà mình. Đến khoảng 16 giờ 00 cùng ngày, khi H đi đến khu vực vòng xuyến thuộc xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc thì H gặp một người đàn ông tên T (là bạn của H nhưng H không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T). Khi gặp T thì T rủ H đi sử dụng ma túy cùng, nhưng do H có việc bận phải đi về nhà ngay nên H nói với T "Giờ anh có chút việc bận nên không đi được, nếu có thì cho anh xin một ít mang về nhà sử dụng". T đồng ý và bảo H đi vào khu vực cánh đồng gần đó T đưa ma túy cho. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đi theo T đến khu vực cánh đồng Đảng thuộc thôn Ngược Phù Lập, xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, T lấy ra một gói ma túy Heroine bọc bên ngoài bằng giấy đưa cho H, H cầm gói ma túy T đưa cất vào trong túi áo ngực bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi H đi đến ngã tư đường nội đồng thuộc thôn Ngược Phù Lập, xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc thì lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường phát hiện bắt quả tang H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
-Thu trong túi áo ngực bên phải phía trước Đàm Văn H đang mặc một gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng H khai nhận đây là gói ma túy Heroine của H vừa xin được của T với mục đích sử dụng cho bản thân. Tang vật được niêm phong vào một phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1;
-Thu trong túi quần bên phải phía trước Đàm Văn H đang mặc một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0969.762.086.
-Tạm giữ của H một xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu mận chín đã cũ có BKS: 51S2 - 7667.
Ngày 01/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định trưng cầu giám định tang vật thu giữ của Đàm Văn H đến Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1.
Ngày 05/12/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định xác định “Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất, loại Heroine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2002g (Không phảy hai không không hai gam, không kể bao bì)”.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,1061 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ”.
Quá trình điều tra, Đàm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đồng thời H khai nhận mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy trên người là để mang về sử dụng cho bản thân.
Tại bản Cáo trạng số: 13/CT-VKS-VT ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đàm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, ngoài ra không có lời bào chữa nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đàm Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; xử phạt bị cáo H từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 01/12/2019). Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến kiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
.Về nội dung: Hồi 16 giờ 40 ngày 01/12/2019, tại khu vực cánh đồng Đảng thuộc thôn Ngược Phù Lập, xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang Đàm Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu trong túi áo ngực bên phải phía trước Đàm Văn H đang mặc một gói ma túy heroine khối lượng 0,2002g (không kể bao bì); Thu trong túi quần bên phải phía trước Đàm Văn H đang mặc một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0969.762.086; Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 51S2 - 7667.
Hành vi phạm tội như đã nêu trên của Đàm Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Như vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
. Về tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Vĩnh Tường nói riêng và tỉnh Vĩnh Phúc nói chung. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2004, bị chủ tịch UBND huyện Yên Lạc quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 15/6/2005, bị cáo đã bỏ trốn khỏi Trung tâm giáo dục - lao động xã hội tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc) đến ngày 21/5/2007, bị cáo bị Công an huyện Yên Lạc bắt và bàn giao lại cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Sau đó, ngày 07/6/2007, bị cáo tiếp tục bỏ trốn khỏi Cơ sở cai nghiện đến ngày 11/6/2008 thì bị Công an huyện Yên Lạc bắt, tạm giam về hành vi “Cướp tài sản”; Năm 2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đến ngày 07/10/2015, H chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo H làm nghề tự do, thu nhập thấp, không ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên là T khoảng 40 tuổi là người đã cho H ma túy nhưng H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T ở đâu. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Vĩnh Tường đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa làm rõ được nên tiếp tục điều tra, xác minh khi nào rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao 0969.762.086 thu giữ của Đàm Văn H. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của H, không sử dụng liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy nên trả lại cho H nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 51S2 - 7667 tạm giữ của Đàm Văn H, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nguồn gốc hợp pháp của chiếc xe mô tô này nên tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với 0,1061 gam mẫu và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Đàm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đàm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn H 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/12/2019)
Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Trả lại cho Đàm Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao 0969.762.086.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn trả lại sau giám định, gồm A1= 0,1061 gam mẫu và toàn bộ bao gói
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).
Bị cáo Đàm Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - CA huyện Vĩnh Tường; - THADS huyện Vĩnh Tường; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS + VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Trƣờng Sơn |