vanban.org

Bản án 09/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức H phạm tội “Đánh bạc”.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố: Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.360.000 đồng thu của Chu Đức B do đánh bạc với Lê Đức H mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng b…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09 /2020/HS-ST
Ngày: 24 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Kim Oanh và ông Bùi Thanh Xuyên.

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Thanh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Bích Huê - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2020/HSST ngày 02/01/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/QĐXXST-HS ngày 12/02/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đức H (tên gọi khác: không) sinh năm: 1977 tại huyện H, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi ĐKNKTT và trú tại: thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lê Mạnh H, con bà Phạm Thị T; vợ: Đinh Thị Thu M; có hai con: con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 13/4/2015, Công an huyện Hoa Lư ra quyết định số 34/QĐ-XPHC, xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với Lê Đức H về hành vi đánh bạc. H chưa thi hành.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Chu Đức B, sinh năm 1985; Trú tại: thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua nguồn tin tố giác của quần chúng nhân dân về việc anh Chu Đức B sinh năm 1985; trú tại thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình có hành vi bán số lô, số đề trái pháp luật cho một số đối tượng tại địa bàn xã Ninh Hải. Hồi 17 giờ 50 phút ngày 24/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã triệu tập Chu Đức B đến Cơ quan điều tra làm việc và đấu tranh, phát hiện từ 17 giờ 17 phút đến 17 giờ 33 phút ngày 24/9/2019, Chu Đức B đã sử dụng điện thoại di động Iphon 6s màu trắng, lắp sim số 0983.164.191 nhắn tin, nhận bán số lô, số đề cho một số đối tượng cụ thể như sau:

- Hồi 17giờ 17 phút ngày 24/9/2019, Lê Đức H sinh năm 1977; trú tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình là đối tượng có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc dùng điện thoại Nokia màu đen, lắp sim 0917.058.062 nhắn tin vào số điện thoại 0983.164.191 của Chu Đức B mua các số lô Hà Nội 33 là 20 điểm (mỗi điểm lô Hà Nội bằng 23.000 đồng); các số đề 01, 10, 03, 30, 08, 80, 11, 31, 37, 38, 73, 55 mỗi số 50. 000 đồng và các số đầu 3 gồm 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số là 30.000 đồng. Tổng số tiền H mua các số lô, số đề của anh B là 1.360.000 đồng. H đã thanh toán số tiền 1.360.000 đồng cho B.

- Hồi 17giờ 22 phút và 17giờ 38 phút ngày 24/9/2019, Chu Văn B sinh năm 1972; trú tại thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình dùng điện thoại Samsung J7 pro màu xám, lắp sim 0906.060.321 nhắn tin vào số điện thoại của B mua các số lô đề với tổng số tiền 865.000 đồng. B chưa thanh toán tiền cho B.

- Hồi 17giờ 33 phút ngày 24/12/2019, Chu Văn A sinh năm 1969; trú tại thôn V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình dùng điện thoại Sam sung A5 0011 màu trắng, lắp sim số 0942.525.455 nhắn tin vào số điện thoại của Bích mua các số ba càng với tổng số tiền 250.000 đồng. A chưa thanh toán tiền cho B.

Sau khi nhận được các tin nhắn trên, Chu Đức B đều nhắn tin lại cho H, B và A với nội dung “0k” xác nhận đồng ý bán số lô đề.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận hình thức mua, bán các số lô, số đề được thua bằng tiền như sau: Dựa vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày. Đối với số đề, người chơi mua số có hai chữ số bất kỳ được so với hai số cuối của giải đặc biệt và được trả thưởng gấp 80 lần số tiền đã mua. Đối với các số lô Hà Nội mỗi điểm lô được tính là 23.000 đồng, người chơi mua các số từ 00 đến 99, được so với hai số cuối của các giải, nếu trúng thưởng cứ một điểm lô Hà Nội người chơi được trả 80.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, ngày 13/4/2015 Lê Đức H bị Công an huyện Hoa Lư ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc, đến nay H chưa chấp hành.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của bản thân.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSHL ngày 30/12/2019 Viện Kiểm sát nhân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo Lê Đức H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ của vụ án, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Đức H phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị:

Áp dụng khoản1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Đức H từ 20 đến 25 triệu đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.360.000 đồng thu của Chu Đức B do đánh bạc với Lê Văn H mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s màu trắng bên trong lắp sim 0983.164.191, B sử dụng để đánh bạc với Lê Đức H.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà, bị cáo Lê Đức H khai nhận: khoảng 17giờ 17 phút ngày 24/9/2019, bị cáo sử dụng điện thoại di động của mình nhắn tin mua các số lô Hà Nội và số đề với Chu Đức B, số tiền mua số lô, số đề là 1.360.000đồng; bản thân bị cáo có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa(chưa thi hành). Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Lê Đức H có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa, trong ngày 24/9/2019, bị cáo có hành vi mua các sốlô, số đề trái phép với Chu Đức B, số tiền mua số lô, số đề là 1.360.000đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng viện kiển sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng được luật hình sự bảo vệ, mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đồng thời để giáo dục phòng ngừa chung.

[3].Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: số tiền bị cáo dùng đánh bạc không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4].Về hình phạt: Áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo.

[5].Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của Chu Đức B 01 điện thoại di động Iphone 6s lắp sim 0983.164.191và số tiền 1.360.000đồng; của Chu Văn B số tiền 865.000đồng và 01 điện thoại di động samsung J7; của Chu Văn A số tiền 250.000đồng; xét thấy:

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng, bên trong lắp sim số 0983.164.191là phương tiện B dùng ghi số lô, số đề với Lê Đức H; số tiền 1.360.000 đồng là tiền do B và H mua bán số lô, số đề mà có, cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 865.000 đồng thu giữ của Chu Văn B và 250.000 đồng thu giữ của Chu Văn A là tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức tịch thu sung ngân sách nhà nước. 01 điện thoại Sam sung Galaxy J7 pro màu xám, lắp sim 0906.060.321 được trả lại cho Chu Văn B, là có căn cứ, đúng pháp luật.

[6]. Về các vấn đề khác: Chu Đức B ngày 24/9/2019 đã bán các số lô, số đề cho Lê Đức H với số tiền 1.360.000 đồng, Chu Văn B với số tiền 865.000 đồng và Chu Văn A số tiền 250.000 đồng. Xét thấy: số tiền sử dụng để đánh bạc của các đối tượng Chu Đức B, Chu Văn B và Chu Văn A dưới 5.000.000 đồng; về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không đủ căn cứ để khởi tố đối với B, A và B. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính đối với các đối tượng trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[7].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8].Quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức H phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Đức H 20(Hai mươi)triệu đồng.

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên bố:

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.360.000 đồng thu của Chu Đức B do đánh bạc với Lê Đức H mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng bên trong lắp sim 0983.164.191 là phương tiện B dùng ghi số lô, số đề với Lê Đức H. (Căn cứ ủy nhiệm chi số 01 lập ngày 02/01/2020 và biên bản bàn giao vật chứng lập ngày 31/12/2019 giữa Công an huyện Hoa Lư và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc Lê Đức H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (24/02/2020); Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Truờng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ