vanban.org

Bản án 09/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn An Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2019.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao gói ma túy loại Methamphetamine được gói niêm phong sau giám định. Trả lại: Anh Nguyễn Mạnh H 01 xe máy Honda Dream BKS 29X3 – 15419, số khung C100M-0141673, số máy C100ME- 0141673; bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có hai số t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn An Th bị viện kiểm sát truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn An Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HS - ST
Ngày: 10/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỒ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen

Bà Nguyễn Thị Hồ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuân – Thẩm tra viên chính, Toà án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2020/TLST- HS ngày 20 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn An Th, sinh năm 1974 tại xã Liên Tr, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Cụm 2, xã Liên Tr, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn An L và con bà Nguyễn Thị S; Vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/8/1997, bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 06 tháng tù về tội tổ chức dùng chất ma túy, ngày 30/3/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, ngày 26/12/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng 03 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; danh chỉ bản số 024 lập ngày 20/12/2019 của Công an huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/12/2019, tạm giam ngày 27/12/2019; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1970; nơi cư trú: Cụm 1, xã Liên Tr, huyện Đ, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

* Người làm chứng: Anh Ngô Đăng T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Cao X, xã Đức Th, huyện H, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 18/12/2019, Nguyễn An Th đi xe máy BKS 29X3 -15419 đến Trung tâm cai nghiện thuộc xã Tân Lập, Đan Phượng, Hà Nội. Khi đi qua cầu Trũng Vỡ thuộc xã Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội thì Th gặp một người bạn xã hội tên H (Không rõ địa chỉ) và người này đưa cho Th 300.000 đồng để nhờ Th mua hộ ma túy tổng hợp (Ma túy đá) để cùng sử dụng. Người này hẹn Th 16 giờ cùng ngày gặp nhau tại nhà nghỉ Bốn Mùa ở khu Làng nghề Tân Hội thuộc xã Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội để cùng sử dụng ma túy. Sau đó, Th đến trung tâm cai nghiện thuộc xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội để uống thuốc Methadon. Sau khi uống thuốc xong Th ra cổng gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ để mua ma túy. Th đưa cho người đàn ông đó 300.000 đồng và người đó đưa cho Th một túi nilong bên trong có đựng tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp (Ma túy đá). Th cầm túi ma túy bỏ vào túi quần bò phía trước bên phải rồi đi xe máy về khu vực trước cửa nhà nghỉ Bốn Mùa ở khu Làng nghề xã Tân Hội, chờ bạn để cùng sử dụng ma túy. Trong lúc chờ bạn, Th bị lực lượng công an xã Tân Hội kiểm tra và Th tự nguyện giao nộp túi nilong có kích thước 2x3cm, bên trong đựng tinh thể màu trắng. Th khai là ma túy tổng hợp (Ma túy đá). Ngoài ra Th còn tự nguyện giao nộp cho công an 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng, 01 chiếc xe máy Honda Dream BKS 29X3 – 15419 và 100.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 8277/KLGĐ - PC09 ngày 26/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,545 gam.

Tại bản cáo trạng số 06/CT - VKS - ĐP ngày 18/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã truy tố bị cáo Nguyễn An Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Th khai: Bị cáo là đối tượng nghiện đang điều trị Methadon ở Trạm y tế xã Tân Lập. Khoảng 14 giờ ngày 18/12/2019, bị cáo gặp người bạn xã hội tên H đưa cho 300.000 đồng, bảo mua hộ ma túy và hẹn cùng sử dụng ở nhà nghỉ Bốn Mùa. Sau đó, Th đến khu vực xã Tân Lập gặp một người đàn ông không rõ, tên, tuổi, địa chỉ và mua 300.000 đồng ma túy. Khoảng 16 giờ 25 phút cùng ngày, Th đến nhà nghỉ Bốn Mùa để cùng H sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an bắt và thu giữ những tang vật như trong cáo trạng đã nêu. Chiếc xe máy Honda Dream BKS 29X3 – 15419 của anh H là em dể bị cáo, bị cáo mượn anh H để đi trong ngày, anh H không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy sử dụng. Công an huyện Đan Phượng thu giữ của bị cáo số tiền 100.000 đồng, là tiền của bị cáo lao động mà có, được dùng để chi tiêu hàng ngày. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố Nguyễn An Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn An Th từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói ma túy Methamphetamine được niêm phong trong 01 (một) gói sau giám định có chữ ký và chữ viết của Nguyễn An Th, chữ viết của cán bộ giám định. Trả lại: Anh Nguyễn Mạnh H 01 xe máy Honda Dream BKS 29X3 – 15419; bị cáo số tiền 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Vụ án xảy ra tại xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội nên thẩm quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử thuộc các cơ quan tố tụng của huyện Đan Phượng. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và đến thời điểm tòa án xét xử thì bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn An Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng vụ án, lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 18/12/2019, Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,545 gam. Tại thời điểm phạm tội bị cáo Th có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý. Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xét xử về tội tổ chức dùng chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo không nhận thức hành vi sai phạm của mình trước đó để làm bài học để thay đổi bản thân, tu dưỡng đạo đức mà có hành vi phạm tội nêu trên. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người tốt và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bản thân bị cáo lao động tự do, công việc không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Người bạn xã hội tên H đưa tiền nhờ Th mua ma túy và người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ bán ma túy cho Th. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được vì vậy không có căn cứ xử lý.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bao gói ma túy loại Methamphetamine được gói niêm phong sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy Honda Dream BKS29X3 – 15419 bị cáo mượn của anh H không nói đi đâu, anh H không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Anh H đề nghị được nhận lại xe máy để làm phương tiện đi lại. Hội đồng xét xử xét đề nghị của anh Nguyễn Mạnh H có cơ sở chấp nhận.

Đối với số tiền 100.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có hai số thuê bao gồm, sim 1 số 0829933468, sim 2 số 0975337802 của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn An Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/12/2019.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao gói ma túy loại Methamphetamine được gói niêm phong sau giám định. Trả lại: Anh Nguyễn Mạnh H 01 xe máy Honda Dream BKS 29X3 – 15419, số khung C100M-0141673, số máy C100ME- 0141673; bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có hai số thuê bao gồm, sim 1 số 0829933468, sim 2 số 0975337802 (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đan Phượng và Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng ngày 20/02/2020).

Trả bị cáo 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) theo ủy nhiệm chi ngày 25/02/2020 giữa Công an huyện Đan Phượng và Kho bạc Nhà nước Đan Phượng.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn An Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ