- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con”"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Ngọc A được ly hôn anh Đỗ Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 3 năm 2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tư.
2. Bà Hoàng Thị Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Văn Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19/3/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 25/2020/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 21/02/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/3/2020, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Đào Ngọc A, sinh năm 1995
Địa chỉ: Số 16, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
+ Bị đơn: Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đào Ngọc A trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn L đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và có được tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại gia đình anh L ở thôn An Bình, xã T, thành phố B. Thời gian đầu tỉnh cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc.
Đầu năm 2019 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh L chơi bời, nghiện chơi game, không quan tâm đến gia đình, con cái. Anh L vẫn đi làm nhưng từ khi kết hôn anh L chưa bao giờ đưa tiền cho chị để chăm lo cho gia đình. Hai bên gia đình có động viên khuyên bảo nhưng anh L vẫn chứng nào tật ấy, vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, mâu thuẫn. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ tháng 5 năm 2019, nên chị đã đưa con về nhà mẹ đẻ sống từ đó đến nay. Từ khi chị về nhà mẹ đẻ anh L cũng không quan tâm hỏi han vợ con và chưa lần nào đến động viên chị quay về. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn anh Đỗ Văn L.
Về con chung vợ chồng: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Minh T, sinh ngày 11/01/2019. Hiện nay cháu T đang sống cùng chị. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu T cho chị nuôi dưỡng và chị không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị đang kinh doanh ngoài, thu nhập khoảng 5.000.000đ đến 6.000.000đ/ tháng. Đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Bị đơn là anh Đỗ Văn L trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập các phiên họp hòa giải và công khai chứng cứ, nhưng không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gì về việc giải quyết vụ án.
Tại Biên bản xác minh ngày 11/02/2020 của Tòa án với bà Nguyễn Thị H, là mẹ của anh L, bà H xác định đã nhận được Thông báo của Tòa án và giao lại cho anh L, nhưng anh L đi làm xa nên không đến Tòa án làm việc, không cung cấp quan điểm giải quyết vụ án cho Tòa án và anh L đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị A. Sau khi kết hôn, anh L và chị A sống cùng với bà, trong quá trình chung sống hay xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau. Ngày 10/6/2019 âm lịch chị A đã về nhà bố mẹ đẻ ở, bản thân bà đã hòa giải động viên nhưng chị A không quay về. Nay chị A xin ly hôn bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Biên bản xác minh ngày 11/02/2020 của Tòa án với chính quyền địa phương thôn A, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, chính quyền địa phương xác định anh L và chị A kết hôn năm 2008, vợ chồng chung sống tại địa phương, việc mâu thuẫn của hai vợ chồng chính quyền không nắm rõ, đối với anh L thường xuyên đi làm ăn, thi thoảng mới về, chị A hiện nay đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Vợ chồng có 01 con còn nhỏ, hiện ở cùng với chị A.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. HĐXX công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn về cơ bản đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng đã vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự như vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa.
- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị A được ly hôn anh L.
+ Về con chung: Giao cháu Đỗ Minh T, sinh ngày 11/01/2019 cho chị Đào Ngọc A chăm sóc, nuôi dưỡng.
+ Về án phí: chị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện của chị A thì thấy đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị A và anh L kết hôn năm 2018 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu; đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, qua xác minh tại địa phương thì thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân, không liên lạc, quan tâm gì đến nhau, chị A xác định không còn tình cảm vợ chồng, bản thân anh L không đến Tòa án làm việc, hòa giải. Do đó, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử cho chị A được ly hôn với anh L.
Về con chung: chị A và anh L có 01 con chung là Đỗ Minh T, sinh ngày 11/01/2019. Hiện nay cháu T đang sống cùng chị A. Xét yêu cầu của chị A đề nghị Tòa án giao cháu T cho cho chị nuôi dưỡng, phía anh L không có quan điểm gì về nuôi con. Hơn nữa, cháu T chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần áp dụng khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử cho chị A được nuôi con chung. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, do chị A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Ngọc A được ly hôn anh Đỗ Văn L.
2. Về con chung: Giao cho chị Đào Ngọc A chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh T, sinh ngày 11/01/2019.
Anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai số AA/2016/0000913 ngày 13/01/2020. Xác nhận chị A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND TP. B; - CCTHADS TP. B; - UBND xã T; - Các đương sự. - Lưu HS, VP. | TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Mạnh Thắng |