vanban.org

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thang Thị N được ly hôn với anh Sầm Văn C.

Về con chung: Giao cháu Sầm Thị Thu H, sinh ngày 19/11/2009 và cháu Sầm Ngọc L, sinh ngày 15/01/2014 cho anh Sầm Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị N phải cấp dưỡng cho hai con mỗi tháng là 1.500.000 đồng/1tháng cho đến khi cháu H và cháu L đủ 18 tuổi, trừ trường hợp thay đổi mức cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình về việc "Xin ly hôn" giữa nguyên đơn Thang Thị N và bị đơn Sầm Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Thang Thị N được ly hôn với anh Sầm Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST
Ngày 22/5/2020
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Khánh Dần.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phương Văn Tư và Bà Mã Thị Huệ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Quỳnh- Thư ký Tòa án- Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 về việc "Xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2020, giữa:

`- Nguyên đơn: Chị Thang Thị N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm N, xã Q, huyện T, Cao Bằng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Sầm Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm N, xã Q, huyện T, Cao Bằng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng chị Thang Thị N trình bày như sau:

Chị và anh Sầm Văn C tổ chức cưới theo phong tục, sống chung từ năm 2009, lấy nhau do bố mẹ sắp đặt. Đến năm 2011 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà chồng và có 02 con chung, con lớn tên là Sầm Thị Thu H, sinh ngày 19/11/2009; con nhỏ tên là Sầm Ngọc L, sinh ngày 15/01/2014. Tuy nhiên, đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không tu chí làm ăn, suốt ngày rượu chè, nhiều lần có hành vi đánh đập chị. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị mong Tòa giải quyết cho ly hôn với anh C.

- Về con chung: Hiện cháu L đang ở với chị, cháu H đang ở với anh C. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu mỗi người nuôi 01 con (chị nuôi cháu L) và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại Tòa, anh Sầm Văn C trình bày như sau:

Về thời gian sống chung, kết hôn và con chung như chị N trình bày là đúng. Đến năm 2013, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống vợ chồng. Nay chị N yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý. Tuy nhiên, sau khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung và yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con với số tiền từ 6.000.000-7.000.000 đồng/tháng/02 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa, anh yêu cầu mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì thêm.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh Sầm Văn C; về con chung: giao cháu Sầm Thị Thu H và cháu Sầm Ngọc L cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và buộc chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; Về án phí: Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị N phải chịu án phí sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định các vấn đề cần giải quyết như sau:

- Về tố tụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Chị N và anh C đã được Tòa án triệu tập đến để tiến hành hòa giải. Tại biên bản hòa giải ngày 20/02/2020 hai bên không thống nhất được vấn đề về nuôi con chung nên Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Nội dụng vụ án:

. Về hôn nhân: Chị Thang Thị N và anh Sầm Văn C sống chung với nhau từ năm 2009, đến năm 2011 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị N yêu cầu ly hôn, tại phiên tòa anh C đồng ý (chỉ đồng ý nếu được nuôi cả 02 con chung và hàng tháng chị N cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật cho đến khi các con đủ 18 tuổi).

Qua quá trình thu thập chứng cứ thể hiện: Cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh C không hạnh phúc, nguyên nhân do mâu thuẫn bất đồng quan điểm trong cách sống, thường xuyên tranh cãi, thực tế hai người đã ly thân gần 02 năm. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thang Thị N.

. Về con chung: Chị Thang Thị N và anh Sầm Văn C có 02 con chung, con lớn tên là Sầm Thị Thu H, sinh ngày 19/11/2009; con nhỏ tên là Sầm Ngọc L, sinh ngày 15/01/2014. Chị N có nguyện vọng sau khi ly hôn mỗi bên nuôi 01 con và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con, anh C không đồng ý.

Qua quá trình xác minh thu thập chứng cứ thể hiện: Cháu Sầm Thị Thu H có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn; cháu L hiện nay đang còn nhỏ (dưới 07 tuổi) đang sống cùng với chị N bên nhà bố mẹ. Xét thấy, anh C có nơi ở và điều kiện để đảm bảo cuộc sống ổn định và phát triển bình thường cho cháu H và cháu L nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu H và cháu L cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp.

Về yêu cầu nuôi con chung của chị N: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình tranh tụng tại tòa xác định chị N hiện đang đi làm công nhân, đi lại ở nhà mẹ đẻ nên xét thấy chị không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vậy nên, Tòa án không chấp nhận yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn của chị N.

Theo Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

. Về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng: Tại phiên tòa, anh C yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng theo quy định pháp luật cho 02 con cho đến khi các con đủ 18 tuổi; Chị N không đồng ý vì cho rằng yêu cầu mỗi người nuôi một con thì không ai phải cấp dưỡng.

Nhận định của Tòa án: Tại khoản 1 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Tại Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về phương thức cấp dưỡng quy định: “Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần”. Anh C và chị N không tự thỏa thuận được mức cấp dưỡng. Tòa án xét thấy, chị N là người không có công việc và thu nhập không ổn định; căn cứ lời khai của chị N tại phiên tòa hiện nay chị đang đi làm thuê có thu nhập mỗi tháng là 3.500.000 đồng. Vì vậy, Tòa án xem xét mức thu nhập thực tế và mức sống chung ở địa phương, căn cứ vào mức lương tối thiểu để chia hai người có trách nhiệm như nhau khi nuôi con. Tòa án quyết định mức tiền chị N phải cấp dưỡng nuôi mỗi con là 750.000 đồng/1 tháng/1 con nên mức chị phải cấp dưỡng nuôi hai con là 1.500.000 đồng/1 tháng.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh C đều không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này mà sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu của các đương sự.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Chị N và anh C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thang Thị N được ly hôn với anh Sầm Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Sầm Thị Thu H, sinh ngày 19/11/2009 và cháu Sầm Ngọc L, sinh ngày 15/01/2014 cho anh Sầm Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Chị N phải cấp dưỡng cho hai con mỗi tháng là 1.500.000 đồng/1tháng cho đến khi cháu H và cháu L đủ 18 tuổi, trừ trường hợp thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày tuyên án là ngày 22/5/2020, mỗi tháng cấp dưỡng một lần, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền, chị N được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cấm. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Thang Thị N phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng sung vào công quỹ Nhà nước. Xác nhận chị N đã nộp tiền 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số: AA/2011/02166 ngày 11/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Chị N còn phải nộp án phí là 300.000 đồng.

Anh Sầm Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ