- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Huỳnh N - Trần lài H"
- Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt ông Trần Lài H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-3-2020 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Phi Hùng
2. Ông Lê Bình Triệu
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 460/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Huỳnh N, sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Ông Trần Lài H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm B, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trình bày của bà Nguyễn Huỳnh N:
Về hôn nhân: Bà N và ông H tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn TB vào ngày 05/5/2015. Trong quá trình chung sống không hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, ông H có thái độ ghen tuông vô cớ đối với bà N, từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm
1
trọng, bà N và ông H đã sống ly thân nhau từ tháng 11/2019 đến nay. Xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, bà và ông H không thể tiếp tục chung sống được nữa nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Như Ng, sinh ngày 17/6/2017 (giới tính: Nữ), con chung hiện do bà N nuôi dạy. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu xem xét.
Nợ chung: Không có nên không yêu cầu xem xét.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Thực hiện đúng các quy định của tố tụng dân sự; về nội dung vụ án thì xét thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên các yêu cầu của bà Như là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Huỳnh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Trần Lài H. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn; Ông H có nơi cư trú tại khóm B, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng ông H vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà N và ông H tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Tại đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án bà N cho rằng vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, ông H có thái độ ghen tuông vô cớ, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà N không thể tiếp tục chung sống với ông H nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông H. Xét thấy, quan hệ
2
hôn nhân giữa bà N và ông H đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, bà N xác định vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa bà N và ông H không đạt được, vợ chồng đã ly thân từ tháng 11 năm 2019 cho đến nay. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để bà N và ông H có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, tại phiên hòa giải bà N cương quyết ly hôn, ông H yêu cầu được đoàn tụ, xét thấy hôn nhân hạnh phúc phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của vợ và chồng. Tại phiên tòa, bà N xác định hôn nhân giữa bà và ông H không còn hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà không tự nguyện cùng ông H tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân nên cần chấp nhận yêu cầu của bà N. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà N và ông H được ly hôn là phù hợp.
Về con chung: Bà N và ông H có 01 con chung tên Trần Như Ng, sinh ngày 17/6/2017 (giới tính nữ). Hiện do bà N nuôi dạy, khi ly hôn bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, xét thấy con chung dưới 36 tháng tuổi, là nữ, từ trước đến nay do bà N trực tiếp nuôi dạy nên cần chấp nhận cho bà N được tiếp tục nuôi dạy con chung. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Bà N và ông H không có tài sản chung nên không đặt ra yêu cầu xem xét nên không xem xét là phù hợp.
Về nợ chung: Bà N và ông H xác định trong quá trình chung sống ông bà không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Tại xác nhận ngày 04/12/2019 của Uỷ ban nhân dân thị trấn TB và biên bản ghi lời khai người làm chứng ngày 13/01/2020 xác nhận trong thời gian chung sống không có ai yêu cầu về nợ tại địa phương đối với bà N và ông H. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
3
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xét xử vắng mặt ông Trần Lài H.
2. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Huỳnh N về việc ly hôn, nuôi con chung với ông Trần Lài H.
2.1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Huỳnh N và ông Trần Lài H được ly hôn.
2.2. Về con chung: Giao cháu Trần Như Ng, sinh ngày 17/6/2017 (giới tính: Nữ) cho bà N tiếp tục nuôi dạy. Bà N không yêu cầu ông H không cấp dưỡng nuôi con.
Ông H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.
2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không có
3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 13 tháng 12 năm 2019 bà N có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010810 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; - UBND thị trấn TB; -Lưu hồ sơ. 4 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Lan Anh |