vanban.org

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầ u khởi kiện của chị T. Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh R. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Trịnh Thanh Thúy và anh Nguyễn Văn Ril"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05-5-2020
V/v “Ly hôn, tranh chấ p về nuôi con
khi ly hôn "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHẤN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Dũng Phương.

Ông Nguyễn Quang Chung.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

Đại diện VKSND huyện Tân Phú , tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa : Bà Trương Thị Liên – Kiển sát viên.

Ngày 05/5/2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 597/2019/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/3/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 6, ấp 3, xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh R, sinh năm 1987

Địa chỉ: Tổ 6, ấp 3, xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng: Bà M, sinh năm 1967

Địa chỉ: Ấp 3, xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;anh R vắng mặt; bà M có

đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 20/12/2019 và ngày 31/12/2019, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh R tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/4/2012.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh R thường xuyên uống rượu say xỉn, ngoài ra còn xúc phạm danh dự nhân phẩm và đánh đập chị T. Vì vậy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, chị T và anh R đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh R.

- Về con chung: Chị và anh R có 02 người con chung là Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 09/9/2012 và Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 10/01/2017. Khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý số 597/2019/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2019 cho anh R. Anh R đã biết được việc chị T xin ly hôn với anh nhưng không có ý kiến trả lời theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh R nhưng anh R không đến Tòa án làm việc nên anh R không có ý kiến trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị T đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (bản sao), giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính), Giấy khai sinh con chung (Bản photo); bản tự khai (bản chính). Bản sao các tài liệu, chứng cứ này bị đơn đã nhận được.

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Lời khai của bà Trần Thị M, biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân đối với ông Nguyễn Đình P1, biên bản lấy ý kiến của con chung đối với cháu Nguyễn Ngọc Mai L. Tòa án đã ra thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự biết. Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, chị T không có ý kiến gì và không bổ sung gì thêm.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điề u 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn anh R.

+Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 09/9/2012 và Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 10/01/2017 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Tạm thời anh R không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Anh R vắng mặt tại các buổi hòa giải và xét xử nên khi nào các đương sự yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

+ Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí DSST về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Chị T có đơn khởi kiện ly hôn , tranh chấ p về việ c nuôi con khi ly hôn vớ i anh R. Căn cứ và o khoản 1 Điều 28, Điề u 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự , Hộ i đồ ng xé t xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" và xác định chị T là nguyên đơn, anh R là bị đơn.

Anh R là bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.

Nguyên đơn chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh R đã được triệu tập hợp lệ lầ n thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ và o khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn chị T và bị đơn anh R.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân củ a chị T và anh R đượ c xá c lậ p trên cở sở tự nguyện, được UBND xã P, huyện T1, tỉnh Đồng Nai, cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/4/2012. Như vậy, hôn nhân giữa chị T và anh R được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T yêu cầu ly hôn , thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của các đương sự, kế t quả xác minh thực tế tại địa phương thể hiện: Chị T yêu cầ u ly hôn với lý do do anh R thường xuyên uống rượu say xỉn, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đánh đập chị T. Chị T và anh R đã sống ly thân từ năm 2018 cho đế n nay.

Qua xác minh tại địa phương thì cũng xác định được gia đình chị T và anh R đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do anh R thường xuyên đi uống rượu, bia say xỉn. Chị T và anh R đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay.

Xét, chị T và anh R hiệ n nay đã không cò n số ng chung vớ i nhau, bản thân anh R đã đượ c Tò a á n tố ng đạ t hợ p lệ cá c văn bản tố tụng nhưng anh R vẫ n không đế n tò a là m việ c, thể hiệ n anh R không mong muốn hò a giả i để vợ chồng cùng đoàn tụ số ng chung.

Như vậy, có căn cứ xác định chị T và anh R đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để anh, chị có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị T, cho chị được ly hôn với anh R.

Về con chung: Chị T và anh R có 02 con chung: Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 09/9/2012 và Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 10/01/2017. Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Từ khi chị T và anh R ly thân, cháu L, cháu V được chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con. Cháu L cũng có nguyện vọng được sống chung với chị T. Từ các căn cứ trên, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, tránh sự xáo trộn đời sống tâm lý của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 09/9/2012 và cháu Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 10/01/2017 cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tạm thời anh R không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh R không đến Tòa làm việc nên không có lời khai của anh R. Để đảm bảo quyền, lợi ích của chị T, anh R, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung ra để giải quyết bằng vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng.

Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điề u 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầ u khởi kiện của chị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh R.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Mai L, sinh ngày 09/9/2012 và cháu Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 10/01/2017 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh R không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu. Anh R được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung chị T, anh R có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

2/ Về á n phí: Chị T phải nộp 300.000 đồng tiề n á n phí dân sự sơ thẩ m về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 005736 ngày 31/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú được chuyển thành án phí.

3/ Chị T, anh R có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mườ i lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ