vanban.org

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 13/3/2014 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị N có N1 vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh C, mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng); thời gian tính từ tháng 3 năm 2020. Sau khi ly hôn,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị N và anh C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST
Ngày 05-3-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N1 VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Kho

Bà Khúc Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào Quang Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ma Thị N, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn U, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1994; nơi đăng ký HKTT: Thôn U, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 47 T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 18 tháng 12 năm 2019 và các lời khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn Ma Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện chung sống với anh Nguyễn Văn C từ giữa năm 2013, nhưng đến ngày 06/5/2014 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 28). Đầu năm 2017 anh chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, do bất đồng quan điểm sống, anh C lười lao dộng, có biều hiện quan hệ ngoại tình, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, anh đánh chị nhiều lần. Mâu thuẫn đã được gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2018 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh C.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 13/3/2014, đang do anh C nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị đồng ý giao cháu N1 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh C mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng).

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản khai ngày 20 tháng 01 năm 2020 thống nhất với chị N về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2017, do bất đồng quan điểm sống, chị N nghi ngờ anh không chung thủy, từ đó vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau và sống ly thân từ tháng 8 năm 2018, sau đó anh đã vào số 47 T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng làm ăn, sinh sống không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Ngày 30/12/2019 anh và chị N đã cùng thống nhất thỏa thuận bằng văn bản chọn Tòa án nhân dân huyện K giải quyết vụ án của anh chị theo quy định pháp luật. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn chị N.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung như chị N đã trình bày. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1 đến khi đủ 18 tuổi; anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; anh C vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Vì vậy Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị N giữ nguyên toàn bộ nội dung yêu cầu nêu trên.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sự vắng mặt của bị đơn (anh C) tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị N; cho chị Ma Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 13/3/2014 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Chị N nhận có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh C mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp, được chấp nhận.

Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Anh C là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Ma Thị N và anh Nguyễn Văn C có đăng ký kết hôn từ năm 2014, sinh được một con, cùng chung sống tại thôn U, xã T, huyện K. Quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn, anh C đã vào quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng sinh sống. Nay chị N gửi đơn xin ly hôn anh C tại Tòa án nhân dân huyện K. Kèm theo đơn xin ly hôn là các tài liệu, chứng cứ, trong đó có biên bản thỏa thuận giữa chị N và anh C về việc chọn Tòa án nhân dân huyện K giải quyết vụ án của anh chị theo quy định của pháp luật; căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N xin ly hôn anh C; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền xã T cung cấp thì hôn nhân của chị Ma Thị N và anh Nguyễn Văn C là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra; đầu năm 2017 trở nên trầm trọng, do anh C lười lao động, không chung thủy, từ đó vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau, anh chị đã sống ly thân từ giữa năm 2018 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Yêu cầu xin ly hôn của chị N có cơ sở chấp nhận, nên xử cho chị N được ly hôn anh C là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như ý kiến của anh C tại bản khai và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con là Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 13/3/2014, đang do anh C nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh chị đều có nguyện vọng giao cháu N1 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị N tự nguyện vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh C mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình cũng như ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa,

Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí về N1 vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 13/3/2014 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị N có N1 vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh C, mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng); thời gian tính từ tháng 3 năm 2020.

Sau khi ly hôn, chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh C mà chị N chưa thi hành án xong số tiền cấp dưỡng nuôi con thì chị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự về N1 vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0008813 ngày 06 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị N còn phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ