vanban.org

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thanh Th, cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thanh Th và anh Hà Minh S.

Về việc nuôi con: 1. Chị Phan Thị Thanh Th được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Hà Minh Kh, sinh ngày 18/4/2005 và Hà Minh D, sinh ngày 28/01/2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Th và anh S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thanh Th, cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thanh Th và anh Hà Minh S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-4-2020
V/v tranh chấp ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

2. Bà Ngô Thị Lệ Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020, về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXX-ST ngày 26 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thanh Th, sinh năm 1985; Địa chỉ nơi cư trú: ấp BHT, xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Hà Minh S, sinh năm 1980; Địa chỉ nơi cư trú: ấp BHT, xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phan Thị Thanh Th trình bày: Chị và anh Hà Minh S cưới nhau vào năm 2003, hôn nhân do mai mối nhưng chị vẫn đồng ý, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTHA, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới vợ chồng sống chung gia đình anh S. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng cũng hạnh phúc, nhưng từ khi sinh cháu Hà Minh D thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và đến cuối năm 2019 thì ngày càng mẫu thuẫn do anh S thường xuyên ham chơi không lo cho gia đình từ đó vợ chồng không còn sống chung với nhau. Trong thời gian không còn sống chung thì anh chị không có gặp nhau để hàn gắn. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Hà Minh S vì tình cảm không còn. Về con chung: Có 02 con chung tên Hà Minh Kh, sinh ngày 18/4/2005 và Hà Minh D, sinh ngày 28/01/2015, hiện 02 cháu đang sống với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng. Về tài sản chung: Chị và anh Hà Minh S chung sống không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung Chị và anh Hà Minh S chung sống không nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Hà Minh S, Toà án đã triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại bản khai ngày 11/3/2020, cháu Hà Minh Kh trình bày: “Ba mẹ ly hôn con ở với mẹ”.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phan Thị Thanh Th được ly hôn với anh Hà Minh S; về con chung: giao 02 con chung tên Hà Minh Kh, sinh ngày 18/4/2005 và Hà Minh D, sinh ngày 28/01/2015 cho chị Phan Thị Thanh Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh S không phải cấp dưỡng do chị Th không có yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Hà Minh S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phan Thị Thanh Th và anh Hà Minh S là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị Thanh Th đối với anh Minh S, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của chị Thanh Th tại phiên tòa hôm nay thì cuộc sống của chị và anh Minh S không hạnh phúc, nguyên do anh Minh S thường xuyên ham chơi không lo cho gia đình, chị và gia đình có khuyên can nhưng anh S vẫn không sửa đổi từ đó vợ chồng ngày càng bất đồng quan điểm, mâu thuẫn kéo dài, dẫn đến cự cải với nhau thường xuyên. Chị và anh Vân đã không còn chung sống từ cuối năm 2017 đến nay. Từ khi không còn sống chung, tuy chị và anh S có điện thoại cho nhau nhưng không có bàn bạc, hàn gắn tình cảm. Đối với anh Minh S thì Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, động viên cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh vẫn không đến và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Thanh Th và anh Minh S hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Thanh Th là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Khi vợ hoặc chồng yêu cẩu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Phan Thị Thanh Th ly hôn với anh Hà Minh S.

Về việc nuôi con: Tại phiên tòa hôm nay, chị Thanh Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Hà Minh Kh, sinh ngày 18/4/2005 và Hà Minh D, sinh ngày 28/01/2015, Hội đồng xét xử xét thấy, 02 cháu từ khi sinh ra cho đến khi vợ chồng không còn sống chung và hiện nay đều do chị Thanh Th chăm sóc, nuôi dưỡng, ngoài ra cháu Minh Kh cũng có nguyện vọng được ở với mẹ và để ổn định việc sinh hoạt của 02 cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung của chị Thanh Th, anh Minh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Thanh Th không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Do chị Thanh Th trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Minh S không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thanh Th, cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thanh Th và anh Hà Minh S.

2. Về việc nuôi con:

2.1. Chị Phan Thị Thanh Th được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung Hà Minh Kh, sinh ngày 18/4/2005 và Hà Minh D, sinh ngày 28/01/2015.

2.2. Anh Hà Minh S không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị Thanh Th chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001102 ngày 14/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ