- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thanh L tranh chấp ly hôn với anh Nguyễn Thành K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh L với anh Nguyễn Thành K. Chị L được ly hôn với anh K.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2020 V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuyển
2. Ông Nguyễn Thái Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐST-HN ngày 06 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp T, xã L1, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấ p 5, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Tất cả có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh L trình bày: Chị và anh K tự nguyện chung sống với nhau vào tháng 6 năm 2016 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, có tổ chức lễ cưới, ngày cưới có cho một số nữ trang nhưng hiện không còn vì vợ chồng bán để làm vốn kinh doanh tạo kinh tế gia đình. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Duy Khôi, sinh ngày 30-10-2017, hiện chị đang nuôi. Tài sản chung và nợ chung không có.
Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không phù hợp, không cùng quan điểm sống, sống chung mà cả hai không tìm được tiếng nói chung, không ai trò chuyện tâm sự với ai, tính tình anh K cộc cằn, thô lỗ nên sống không hạnh phúc, có lần anh K còn đánh chị nên chị bỏ về nhà mẹ ruột ở và vợ chồng sống ly thân cách đây khoảng 01 năm. Trong thời gian ly thân hai bên không gặp nhau để bàn bạc hàn gắn gia đình, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm chăm sóc đến ai, ai cũng có cuộc sống riêng, chỉ liên lạc điện thoại hỏi thăm con. Chị cảm thấy vợ chồng không còn tình cãm với nhau nên không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Chị yêu cầu được quyền nuôi con, yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con 01 tháng 1.000.000 đồng. Vì con còn nhỏ nếu giao cho anh K nuôi dưỡng thì sẽ không chăm sóc chu đáo cho con. Tại phiên tòa chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Thành K trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị L là đúng. Trong thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên cách đây khoảng 02 năm do anh đam mê làm từ thiện không chăm lo gì cho cuộc sống gia đình, không quan tâm đến vợ con từ đó nỗi buồn của vợ anh dồn nén lâu ngày nên yêu cầu ly hôn. Anh thừa nhận có đánh vợ một lần do cả hai bên lời qua tiếng lại vì anh nóng tính không kiềm chế được nên có đánh vợ một bạt tay từ đó vợ bỏ về nhà mẹ ruột ở cách đây khoảng một năm, trong thời gian vợ bỏ đi anh có đến nhiều lần thăm con nhưng không nói chuyện với vợ để năn nỉ hàn gắn gia đình vì anh dự định để vợ đi thời gian hết giận rồi về tiếp tục chung sống. Chị L yêu cầu ly hôn anh không đồng ý mà yêu cầu được đoàn tụ. Vì anh cảm thấy vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng, anh nhận anh đã sai vì không dành thời gian quan tâm chăm sóc vợ con, anh hứa sẽ sửa đổi tính tình quan tâm chăm sóc vợ con nhiều hơn. Tại phiên tòa anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh đồng ý cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con một tháng 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa chị L không yêu cầu nên anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L; giao con cho chị L trông nom chăm sóc nuôi dưỡng, anh K không cấp dưỡng nuôi con; tài sản và nợ chung, chị L và anh K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị L và anh K chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị L yêu cầu ly hôn, do anh chị bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, không ai trò chuyện tâm sự với ai, tính tình anh K lại thô lỗ có lần còn đánh chị và anh chị sống ly thân được khoảng một năm. Ngược lại anh K yêu cầu đoàn tụ. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án anh K có đến gặp chị L nhiều lần để bàn bạc hàn gắn gia đình nhưng chị L không đồng ý, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc đến ai và tại phiên tòa anh K đồng ý ly hôn. Từ những nhận định trên, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị L và anh K lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị L và anh K thống nhất cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con tên Nguyễn Duy Khôi, sinh ngày 30-10-2017. Xét thấy, sự thỏa thuận của chị L và anh K phù hợp theo quy định pháp luật và hiện tại cháu Khôi còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Khôi cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa chị L thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh K không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh L với anh Nguyễn Thành K. Chị L được ly hôn với anh K.
2. Về con chung: Giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Duy Khôi, sinh ngày 30-10-2017. Anh K không cấp dưỡng nuôi con.
Anh K có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh K không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000046 ngày 08/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Ghi nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - Chi cục THADS huyện Gò Dầu; - UBND xã Bàu Đồn; - Các đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |