vanban.org

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị D.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị D và anh Lâm Văn H được ly hôn Về con chung: Chị Huỳnh Thị D được tiếp tục nuôi con chung là Lâm Ngọc H, sinh ngày 16/3/2009 và Lâm Chấn H, sinh ngày 08/7/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Diền - Hớn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 20/3/2020
V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Đến

Bà Trần Thị Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu là thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lánh, kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 54/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXX-ST ngày 19 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2020/QĐST-HNGĐ ngày 12/3/2020 giữa:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị D, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Long H2, xã Hòa M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Anh Lâm Văn H, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Long H2, xã Hòa M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị D có ý kiến: Chị với anh H trước đây hai gia đình ở gần nhau, nên có sự quen biết nhau từ trước, lớn lên có tình cảm và sau khi được sự đồng ý của cha mẹ hai bên anh chị tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa M vào năm 2009. Sau ngày cưới vợ chồng chị sống chung với gia đình bên chồng. Chị làm tại công ty ở khu công nghiệp Long Đức, còn anh H làm ruộng. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và chị về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H ghen tuông vô cớ, kiếm chuyện chửi chị thường xuyên. Từ ngày ly thân đến nay giữa chị với anh H cũng có gặp nhau nói chuyện đoàn tụ lại nhưng không được. Nay chị D xét thấy không còn tình cảm với anh H nên chị xin ly hôn anh Lâm Văn H.

Về con chung: Vợ chồng chị có với nhau 02 người con chung là Lâm Ngọc H, sinh ngày 16/3/2009 và Lâm Chấn H, sinh ngày 08/7/2014. Khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Chị D khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lâm Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Hòa giải, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần đến tham gia phiên tòa nhưng anh H vẫn không đến theo triệu tập của Tòa án, cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của bản thân đối với yêu cầu khởi kiện của chị D. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Lâm Văn H.

Cháu Lâm Ngọc H có ý kiến: Hiện cháu đang sống chung với mẹ là Huỳnh Thị D, cháu học được lớp 5, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ.

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên về thời hạn Tòa án gửi Thông báo thụ lý vụ án cho Viện kiểm sát trễ 02 ngày, cần phải rút kinh nghiệm cho vụ án khác.

- Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn anh Lâm Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến theo triệu tập của Tòa án cũng không gửi văn bản nêu rõ ý kiến là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị D được ly hôn anh anh Lâm Văn H

Về con chung: Tiếp tục giao hai cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 16/3/2009 và Lâm Chấn H, sinh ngày 08/7/2014 cho chị Huỳnh Thị D nuôi dưỡng (theo nguyện vọng của cháu Hân được sống chung với chị D). Chị Huỳnh Thị D không yêu cầu anh Lâm Văn H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

Về tài sản, nợ chung chị Huỳnh Thị D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Huỳnh Thị D phải chịu hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Lâm Văn H, trú tại ấp Long H2, xã Hòa M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, chị D yêu cầu được nuôi con chung là Lâm Ngọc H, sinh ngày 16/3/2009 và Lâm Chấn H, sinh ngày 08/7/2014, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, về tài sản, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là “tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Lâm Văn H Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần nhưng không anh H vẫn không có mặt tham dự phiên tòa theo Giấy triệu tập của Tòa án. Nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định tại 207, 208, 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị D và anh H sau khi được sự đồng ý của cha mẹ hai bên, anh chị đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa M vào năm 2009, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân chị D, anh H sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là anh H không tin tưởng, luôn nghi ngờ chị dẫn đến gia đình mất hạnh phúc, từ năm 2018 cho đến nay anh chị đã sống ly thân. Qua xác minh chính quyền địa phương cho biết việc vợ chồng chị D, anh H có mâu thuẫn, nhưng nguyên nhân như thế nào thì không rõ, nay chị D có yêu cầu ly hôn anh H đề nghị Tòa án xem xét theo quy định pháp luật, về con chung, hiện tại hai cháu còn nhỏ, nên có ý kiến Tòa án nên giao hai cháu cho chị D nuôi dưỡng sẽ tốt hơn. Hội đồng xét xử xét thấy trong khoảng thời gian hơn hai năm chị D, anh H đã bỏ mặt nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, do đó chị D, anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị D.

Về con chung: Chị D và anh H có 02 người con chung là Lâm Ngọc H, sinh ngày 16/3/2009 và Lâm Chấn H, sinh ngày 08/7/2014. Hiện nay cháu hai cháu đang sinh sống cùng với chị D được đi học và sinh hoạt bình thường, để đảm bảo cho hai cháu phát triển bình thường, tránh làm sáo trộn đời sống sinh hoạt của hai cháu và cháu Hân cũng có nguyện vọng được sống chung với chị D và theo ý kiến của chính quyền địa phương nên giao hai cháu cho chị D nuôi dưỡng và chị D có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai cháu Lâm Ngọc H, sinh ngày 16/3/2009 và Lâm Chấn H, sinh ngày 08/7/2014 cho chị Huỳnh Thị D tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Thị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, mặc dù Thẩm phán đã có giải thích chị D có quyền yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị D vẫn không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

Về tài sản, nợ chung: Chị Huỳnh Thị D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.

Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị D.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị D và anh Lâm Văn H được ly hôn

Về con chung: Chị Huỳnh Thị D được tiếp tục nuôi con chung là Lâm Ngọc H, sinh ngày 16/3/2009 và Lâm Chấn H, sinh ngày 08/7/2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Thị D không yêu cầu nên không xem xét.

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của chung, khi cần thiết và có yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như phần cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến

2/ Về án phí: Chị Huỳnh Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đ (ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006800 ngày 20/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị D đã nộp xong án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ