vanban.org

Bản án 09/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN số tiền nợ là 530.302.031 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng và nợ lãi là 130.302.031 đồng. Kể từ ngày 27/5/2020, ông M, bà Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng VN và ông M, bà Y"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2020/DS-ST
Ngày 26 tháng 5 năm 2020
“ V/v tranh chấp về hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cường Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khắc Dũng, ông Nguyễn Thế Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Tại - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện EaKar xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 41/2020/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện EaKar, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN. Địa chỉ: 02 L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Xuân H. Chức vụ: Giám đốc ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN – Chi nhánh E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

Người được ủy quyền lại: Ông Cao Duy Bảo Q. Chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN – Chi nhánh E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Địa chỉ: Khối 3, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (theo văn bản uỷ quyền số 270A/NHNo-EaKnốp ngày 12/12/2020) (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y. Cùng địa chỉ: Khối B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 2001. Địa chỉ: Khối B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).

Đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Văn Th: Ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y. Địa chỉ: Khối B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 12/12/2019, các lời khai và tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn ông Cao Duy Bảo Q trình bày:

- Ngày 18/10/2016, ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN (sau đây viết tắt là ngân hàng) số tiền 400.000.000 đồng với thời hạn vay 36 tháng. Lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng 16,50%/năm theo hợp đồng tín dụng số 2108/HĐTD. Thời hạn định kỳ trả lãi và gốc như sau:

+ Ngày 18/10/2017 trả nợ gốc 80.000.000 đồng và tiền lãi.

+ Ngày 18/10/2018 trả nợ gốc 120.000.000 đồng và tiền lãi.

+ Ngày 18/10/2019 trả nợ gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi.

Sau đó, ngày 03/4/2017 ông M, bà Y có trả cho ngân hàng số tiền lãi là 9.900.000 đồng, ngày 15/6/2017 trả được 10.022.222 đồng tiền lãi, ngày 17/10/2017 trả được 80.000.000 đồng tiền gốc và 24.517.778 đồng tiền lãi, ngày 02/4/2018 trả được 5.866.667 đồng tiền lãi.

- Ngày 17/10/2017, ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN (sau đây viết tắt là ngân hàng) số tiền 80.000.000 đồng với thời hạn vay 24 tháng. Lãi suất trong hạn 0,917%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 1,38%/tháng, lãi suất chậm trả 0.83%/tháng theo hợp đồng tín dụng số: 5223LAV201701885. Thời hạn định kỳ trả lãi và gốc như sau:

+ Ngày 17/10/2018 trả nợ gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi.

+ Ngày 17/10/2019 trả nợ gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi.

Đến ngày 02/4/2018, ông M, bà Y có trả cho ngân hàng số tiền lãi là 1.422.466 đồng.

Khi vay 02 hợp đồng tín dụng trên, ông M, bà Y có bảo đảm cho Ngân hàng bằng 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 440m2 tại thửa đất số 427, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại khối 4b, thị trấn EaKnốp, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 677086 ngày 14/9/2010 mang tên ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y, trên đất có 01 nhà xây diện tích 35m2, mái tol, nền xi măng theo hợp đồng thế chấp số 103A/12/TC ngày 21/02/2012 và 01 quyền sử dụng đất với diện tích 9820 m2 tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại thôn Đoàn Kết 2, xã EaTíh, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 413302 ngày 24/12/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Xuân M, bà Vũ Thị Y theo hợp đồng thế chấp số

2

103B/12/TC ngày 21/02/2012 và 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 32.506m2 tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 10 toạ lạc tại Thôn An Bình, xã EaTíh, huyện EaKar, tình Đắk Lắk đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 953941 ngày 19/09/2014 cho ông Nguyễn Xuân M, bà Vũ Thị Y theo hợp đồng thế chấp số 2108/HĐTC ngày 18/10/2016.

Nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng ông M, bà Y không trả cho thêm ngân hàng được khoản tiền gốc và lãi nào. Vì vậy, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông M, bà Y phải trả cho ngân hàng số nợ là 530.302.031 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng, lãi trong hạn là 109.079.756 và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử 26/5/2020 là 21.822.275 đồng. Trường hợp ông M, bà Y không trả được nợ hoặc không trả hết nợ thì đề nghị Toà án giải quyết cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN được quyền phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện EaKar đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông M, bà Y, ông Th đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Toà án để làm việc nên không tiến hành hoà giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện EaKar quyết định đưa vụ án ra xét xử.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng quy định của pháp luật.

- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông M, bà Y phải trả cho ngân hàng số nợ là 530.302.031 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng, lãi trong hạn là 109.079.756 và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử 26/5/2020 là 21.822.275 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN khởi kiện yêu cầu ông M, bà Y phải trả cho ngân hàng số nợ là 530.302.031 đồng. Theo quy

3

định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện EaKar, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông M, bà Y, ông Th vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông M, bà Y, ông Th theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông M, bà Y, ông Th không đến Tòa án làm việc. Tại phiên tòa hôm nay ông M, bà Y, ông Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M, bà Y, ông Th.

Về nội dung: Ngày 18/10/2016, ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN số tiền 400.000.000 đồng với thời hạn vay 36 tháng. Lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn bằng 16,50%/năm theo hợp đồng tín dụng số 2108/HĐTD. Đến ngày 17/10/2017 ông M, bà Y có trả cho ngân hàng được số tiền nợ gốc là 80.000.000 đồng và đến ngày 02/4/2018 đã trả cho ngân hàng tổng số tiền lãi là 50.306.667 đồng.

- Ngày 17/10/2017, ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn VN (sau đây viết tắt là ngân hàng) số tiền 80.000.000 đồng với thời hạn vay 24 tháng. Lãi suất trong hạn 0,917%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 1,38%/tháng, lãi suất chậm trả 0.83%/tháng theo hợp đồng tín dụng số: 5223LAV201701885. Đến ngày 02/4/2018 ông M, bà Y có trả cho ngân hàng số tiền lãi là 1.422.466 đồng.

Nay đã quá thời hạn trả nợ, nhưng bên vay không thực hiện đúng với nội dung hợp đồng đã cam kết. Do đó, đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Từ những chứng cứ mà các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ nên HĐXX cần buộc ông M, bà Y phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN số tiền nợ là 530.302.031 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng, lãi trong hạn là 109.079.756 và nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử 26/5/2020 là 21.822.275 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với tài sản là 01 quyền sử dụng đất ,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 440m2 tại thửa đất số 427, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại khối 4b, thị trấn EaKnốp, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 677086 ngày 14/9/2010 mang tên ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y, trên đất có 01 nhà xây diện tích 35m2, mái tol, nền xi măng; 01 quyền sử dụng đất với diện tích 9820 m2 tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại thôn Đoàn Kết 2, xã EaTíh, huyện EaKar, tỉnh

4

Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 413302 ngày 24/12/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Xuân M, bà Vũ Thị Y và 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 32.506m2 tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 10 toạ lạc tại Thôn An Bình, xã EaTíh, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 953941 ngày 19/09/2014 cho ông Nguyễn Xuân M, bà Vũ Thị Y.

Những tài sản này đã được thế chấp nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của ông M, bà Y. Do vậy, trong trường hợp ông M, bà Y không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 103B/12/TC ngày 21/02/2012 và hợp đồng thế chấp số 103A/12/TC ngày 21/02/2012 và hợp đồng thế chấp số 2108/HĐTC ngày 18/10/2016 theo quy định của luật thi hành án để thu hồi nợ.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông M, bà Y phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn ((theo mức 20.000.000 đồng +(130.302.031 đồng x 4%)).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 147, khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 137; Điều 138, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự. Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN số tiền nợ là 530.302.031 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng và nợ lãi là 130.302.031 đồng.

Kể từ ngày 27/5/2020, ông M, bà Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông M, bà Y vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

5

Trường hợp ông M, bà Y không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN, thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là 01 quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 440m2 đất tại thửa đất số 427, tờ bản đồ số 4 tọa lạc tại khối 4b, thị trấn EaKnốp, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 677086 ngày 14/9/2010 mang tên ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y và tài sản trên đất theo hợp đồng thế chấp số103A/12/TC ngày 21/02/2012; 01 quyền sử dụng đất, với diện tích 9820 m2 tại thửa đất số 10, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại thôn Đoàn Kết 2, xã EaTíh, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 413302 ngày 24/12/2001 mang tên hộ ông Nguyễn Xuân M, bà Vũ Thị Y theo hợp đồng thế chấp số 103A/12/TC ngày 21/02/2012 và 01 quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 32.505m2 tại thửa đất số 29, tờ bản đồ số 10, toạ lạc tại Thôn An Bình, xã EaTíh, huyện EaKar, tình Đắk Lắk đã được UBND huyện EaKar cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 953941 ngày 19/09/2014 cho ông Nguyễn Xuân M, bà Vũ Thị Y hợp đồng thế chấp số 2108/HĐTC ngày 18/10/2016 theo quy định của luật thi hành án để thu hồi nợ.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Xuân M và bà Vũ Thị Y phải chịu là 25.212.081 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN 11.999.041 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0006133 ngày 20/02/2020 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện EaKar.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án Dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

6

Cỡ chữ