- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị V phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HSST Ngày: 28-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Sơn.
2. Ông Phạm Hữu Quốc.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Dương Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Thị V, sinh ngày 15/10/1989, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề ngH: Đại lý bán xổ số; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình Ph và bà Dương Thị S; có chồng, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/12/2018 đến ngày 20/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Phạm Văn Ch, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 12, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
+ Anh Vũ Văn H, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ 12, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt);
+ Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 4, phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn H, sinh năm 1960 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị V là đại lý hợp đồng bán vé xổ số lô tô cho Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình – Chi nhánh Tam Điệp. Lợi dụng làm đại lý xổ số, V đã chuẩn bị bút và một tập giấy có kích thước (6x7)cm với mục đích dùng làm cáp ghi số lô, số đề bán cho khách đi đường để thu lợi bất chính. Chiều ngày 18/12/2018, Phạm Thị V kê bàn ngồi bán lô tô xổ số tại khu vực tổ 1, phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
Khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, Phạm Văn Ch và Vũ Văn H đến hỏi mua số lô, số đề thì V đồng ý bán với tỷ lệ được thua: đánh 01 điểm lô tương ứng số tiền 23.000 đồng, nếu trúng được 80.000 đồng; đề hai số đánh 1.000 đồng, nếu trúng được 70.000 đồng. Phạm Thị V đã bán cho Phạm Văn Ch các số lô 08, 80, 44 mỗi số 50 điểm, tổng là 150 điểm tương ứng với số tiền 3.450.000 đồng và số đề 80 là 50.000 đồng. Số tiền mua lô, đề Ch đã trả cho V là 3.500.000 đồng. Phạm Thị V bán cho Vũ Văn H các số lô 96, 69, 22, 78, 87 mỗi số 20 điểm, tổng 100 điểm tương ứng số tiền là 2.300.000 đồng và hai số đề là 22, 33 mỗi số 50.000 đồng, tổng là 100.000 đồng. Số tiền mua lô, đề H đã trả cho V là 2.400.000 đồng. Tổng số tiền V thu được từ việc bán số lô, số đề cho Ch và H là 5.900.000 đồng. Khi bán lô, đề cho Ch và H, V dùng bút bi mực màu xanh ghi các số lô, số đề vào hai tờ giấy trắng, phía dưới có kê hai tờ giấy màu vàng để in các số lô, số đề bán cho Ch và H; ghi xong, V gỡ hai tờ giấy màu vàng phía dưới đưa cho Ch và H, tờ giấy màu trắng V giữ lại để tổng hợp theo dõi kết quả. Ngay khi V đang đưa tờ cáp lô đề cho Ch và H thì bị Công an thành phố Tam Điệp phát hiện bắt quả tang. Tại chỗ, cơ quan Công an đã thu giữ của Phạm Văn Ch và Vũ Văn H mỗi người một tờ giấy màu vàng có cùng kích thước (6x7) cm trên 02 tờ giấy màu vàng có in các số lô, số đề mà V bán cho Ch và H. Thu giữ của Phạm Thị V tổng số tiền 7.155.000 đồng, trong đó có số tiền 5.900.000 đồng có được từ việc bán số lô, số đề cho Ch và H; thu một tập giấy gồm 15 tờ đều có kích thước (6x7) cm được ghim lại một đầu (trong đó có 7 tờ giấy màu trắng xếp xen kẽ 7 tờ giấy màu hồng và 01 tờ giấy màu xanh ghim dưới cùng) là đồ vật V dùng để ghi số lô, số đề bán cho khách; thu giữ 03 tờ giấy màu trắng có cùng kích thước (6x7)cm, trong đó có 02 tờ giấy màu trắng ghi các số lô, số đề bán cho Phạm Văn Ch và Vũ Văn H và 01 tờ giấy có ghi các số lô, số đề do V khai bán cho một người đàn ông không quen biết (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) với số tiền là 575.000 đ; thu 01 chiếc bút bi vỏ màu trắng đen mực màu xanh mà V dùng để ghi số lô, số đề; thu giữ 01 chiếc ghế nhựa dạng ghế tựa màu đỏ có kích thước (65 x 46 x 32)cm của V và 01 chiếc bàn bằng kim loại có bốn chân, mặt bàn màu xanh có kích thước (45x67x76)cm mà V sử dụng để ghi số lô, số đề.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSTĐ ngày 21 tháng 01 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Thị V về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Thị V từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi vỏ màu trắng đen, mực màu xanh, đã qua sử dụng;
+ Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước số tiền: 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm nghìn đồng) V có được từ việc bán số lô, số đề cho Ch và H và số tiền 575.000 đồng là số tiền bị cáo khai nhận có được bán lô đề cho một người không xác định được tên tuổi, địa chỉ.
+ Trả lại cho bị cáo số tiền 680.000 đồng và 01 ghế nhựa do không liên quan đến việc bán số lô, số đề.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị V đã trình bày diễn biến hành vi đúng như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận bị truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội và đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết toàn bộ vụ án. Nói lời sau cùng bị cáo Phạm Thị V đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Ch và anh Vũ Văn H đều khai nhận ngày 18/12/2018 đã có hành vi mua số lô, số đề của bị cáo Phạm Thị V thì bị bắt quả tang cùng với vật chứng của vụ án. Anh Phạm Văn Ch và anh Vũ Văn H đều không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.
Người chứng kiến khai báo đã được chứng kiến việc Công an bắt quả tang và tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với bị cáo Phạm Thị V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đều có lời khai xác định bị cáo Phạm Thị V đã có hành vi bán số lô, số đề cho anh Phạm Văn Ch và anh Vũ Văn H với diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 18/12/2018 tại khu vực Tổ 1, phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, Phạm Thị V đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho các anh Phạm Văn Ch và Vũ Văn H với tổng số tiền là là 5.900.000 đồng với mục đích thắng thua bằng tiền thì bị bắt quả tang. Hành vi bán số lô, số đề nhằm mục đích được thua bằng tiền của bị cáo Phạm Thị V là thuộc trường hợp đánh bạc trái phép, xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương.
Bị cáo Phạm Thị V là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc của mình là trái phép nhưng vì mục đích kiếm lời nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Số tiền bị cáo Phạm Thị V thu được từ việc bán số lô, số đề là trên 5.000.000 đồng.
Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Đối chiếu hành vi của bị cáo với quy định nêu trên thấy hành vi bán số lô, số đề ngày 18/12/2018 của bị cáo Phạm Thị V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Thị V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Phạm Thị V đã thành khẩn khai báo về hành vi bán số lô, đề trái phép của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo lần đầu phạm tội và là loại tội ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Phạm Thị V trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào
Về hình phạt: Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, động cơ và mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy chỉ cần áp dụng loại hình phạt tiền và mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo là tương xứng và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa Ch cho xã hội.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 chiếc bút bi vỏ màu trắng đen, mực màu xanh, là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với khoản tiền 6.475.000 đồng, bao gồm: 5.900.000 đồng (năm triệu chín trăm nghìn đồng) bị cáo có được từ việc bán số lô, số đề cho anh Ch và anh H và số tiền 575.000 đồng bị cáo có được do bán số lô, số đề cho một người không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 680.000 đồng là tiền hợp pháp của Phạm Thị V không liên quan đến việc bán số lô, số đề và 01 ghế nhựa màu đỏ có KT (65x46x32)cm, dạng ghế ngồi tựa đã qua sử dụng không phải là công cụ trực tiếp sử dụng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 tập giấy gồm 15 tờ bị cáo dùng để ghi số lô, số đề bán cho khách, 02 tờ giấy ghi các số lô, số đề bị cáo bán cho Phạm Văn Ch và Vũ Văn H và 01 tờ giấy ghi các số lô, số đề do V bán cho một người đàn ông không quen biết; 02 tờ giấy màu vàng có in các số lô, số đề mà V bán cho Ch và H đã được lưu hồ sơ vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của bị cáo 01 chiếc bàn bằng kim loại, có mặt bàn hình chữ nhật màu xanh do bị cáo mượn của chị Nguyễn Thị Th để bán xổ số, chị Th không biết V đã sử dụng chiếc bàn vào việc bán số lô, số đề nên chị không có lỗi nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại chiếc bàn cho chị Nguyễn Thị Th là đúng pháp luật.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Trong vụ án này các anh Phạm Văn Ch, Vũ Văn H có hành vi mua số lô, số đề nhưng do không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc, số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên hành vi không cấu thành tội phạm, Công an thành phố Tam Điệp đã xử phạt vi phạm hành chính đối với các anh Phạm Văn Ch, Vũ Văn H là đúng pháp luật.
Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị V phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị V 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi vỏ màu trắng đen, mực màu xanh, đã qua sử dụng;
+ Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 6.475.000 đồng (sáu triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) của bị cáo Phạm Thị V.
+ Trả lại cho bị cáo Phạm Thị V số tiền 680.000 đồng (sáu trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 ghế nhựa màu đỏ có KT (65x46x32)cm, dạng ghế ngồi tựa đã qua sử dụng;
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 21/01/2019 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp. Các khoản tiền hiện đang quản lý tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp tại Kho bạc nhà nước thành phố Tam Điệp theo Ủy nhiệm chi lập ngày 21/01/2019 giữa Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Thị V phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Quách Thành Trung |