vanban.org

Bản án 09/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 26/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2018. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2019/HSST
Ngày 26-02-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hà.

Bà Bùi Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện VKS nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2019/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Ngọc A, sinh năm 1971; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức T, sinh năm 1923 (đã chết); con bà Đoàn Thị B, sinh năm 1931 (đã chết); gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ tám; vợ là Đinh Thị M, sinh năm 1971; có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1993;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 11/01/2012 bị UBND huyện Trực Ninh ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 12 tháng.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/12/2018 đến ngày 07/12/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 05/12/2018 tại khu vực ngã 3 đường 21B thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tôi phạm về kinh tế, ma túy Công an huyện Nam Trực phát hiện bị cáo Bùi Ngọc A đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn, nên đã kiểm tra hành chính về người, thu giữ ở bàn trái của bị cáo 01 gói giấy nhỏ màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, bị cáo khai là Hêrôin và thu giữ trong túi áo ngực bên phải bị cáo đang mặc 01 ống nước cất bằng thủy tinh và 01 xi lanh chưa qua sử dụng là công cụ bị cáo mang theo để sử dụng ma túy. Lực lượng Công an huyện Nam Trực tiến hành niêm phong, thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra bị cáo khai khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày (05/12/2018) bị cáo đi nhờ xe của một người đi đường từ xã P, huyện T lên khu vực trực đường đê sông Hồng thuộc địa phận xã N, huyện N mục đích mua Hêrôin để sử dụng, khi đi bị cáo mang theo 01 ống nước cất và 01 xi lanh bỏ trong túi áo ngực bên phải. Đến nơi, bị cáo xuống xe gặp một người phụ nữ không quen biết hỏi mua 200.000 đồng Hêrôin, người phụ nữ đồng ý nhận tiền và đưa cho bị cáo 01 gói Hêrôin đựng trong gói giấy bạc màu vàng, bị cáo cầm gói Hêrôin mua được ở tay trái đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số: 1066/GĐKTHS ngày 06/12/2018 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại ma túy là Hêrôin; có khối lượng 0,169gam;

Cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Bùi Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Bùi Ngọc A từ 15 (muời lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù;

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số: 1066/GĐKTHS ngày 06/12/2018 của Công an tỉnh Nam định ghi hoàn trả mẫu vật giám định và 01 ống nước cất, 01 xi lanh thu giữ của bị cáo.

- Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo Bùi Ngọc A thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang ngày 05 tháng 12 năm 2018, lời khai của người làm chứng (anh Trần Đắc T và ông Trần Xuân S), kết luận giám định số: 1066/GĐKTHS ngày 06/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 05/12/2018 tại khu vực ngã 3 đường 21B thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, lực lượng Công an huyện Nam Trực phát hiện bắt quả tang bị cáo đang cất giấu trái phép trong người 01 (một) gói Hêrôin có trọng lượng (khối lượng) là 0,169gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và sự phát triển chung của xã hội, là nguyên nhân phát sinh hàng loạt tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của ma túy. Năm 2012 đã bị Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 12 tháng, nhưng không lấy đó làm bài học, quyết tâm sửa chữa để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho các con mà vẫn tiếp tục mua Hêrôin về sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng dăn đe, giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung. Mức án như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua Hêrôin về sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Đối với người đàn bà bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nam Trực chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ nên tách ra điều tra xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Hêrôin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số: 1066/GĐKTHS của Công an tỉnh Nam Định ngày 06/12/2018 là chất cấm lưu hành và 01 ống nước cất, 01 xi lanh thu giữ của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2018.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Hêrôin còn lại sau giám định trong phong bì thư số: 1066/GĐKTHS ngày 06/12/2018 và 01 ống nước cất, 01 xi lanh (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2019 giữa cơ quan Công an huyện Nam Trực và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực);

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Ngọc A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ