vanban.org

Bản án 09/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Phan Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/10/2018 . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn d phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM X
TỈNH HÀ T
Bản án số: 09/2019/HSST
Ngày: 27/02/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị MT

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Hữu T – Ông Đặng Văn H

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên Toà: Bà Lê Thị Thu H, cán bộ TAND huyện Cẩm X, tỉnh Hà T.

- Đại diện VKSND huyện Cẩm X, tỉnh Hà T tham gia phiên Toà: Bà Nguyễn Thị L, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà T mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/HSST ngày 25/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019 ngày 13/02/2019 đối với:

Phan Văn D; sinh ngày 15/7/1971; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Trung T, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Phan Văn Soa, Sinh năm: 1938; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trú tại: thôn Trung T, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T; Con bà: Nguyễn Thị H, Sinh năm: 1940 (Đã mất); Anh chị em ruột: có năm người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Phan Thị Th; Sinh năm: 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đã ly hôn năm 2015, hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài; Con: có 01 đứa, sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 24/10/2018 và chuyển tạm giam từ ngày 26/10/2018 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Tiến Đạt, sinh ngày 5/3/1994, trú tại: Thôn 1, xã Cẩm Thă, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, nghề nghiệp: Lao động tự do, vắng mặt.

2. Anh Phan Văn Việt Nh, sinh ngày 20/6/2004, trú tại: Thôn Trung T, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, nghề nghiệp: học sinh, có mặt.

3. Anh Phan Công H, sinh ngày 10/4/1986, trú tại: xóm Quang Ph, xã Thạch Ch, huyện Lộc H, tỉnh Hà T, nghề nghiệp: lao động tự do, vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn trọng Ch, sinh ngày 02/9/1999, trú tại: Thôn 2, xã cẩm Ph, huyện Cẩm X, tỉnh Hà t, vắng mặt.

2. Anh Phan Văn B, sinh ngày 25/5/1982, trú tại: thôn Trung T, xã Cẩm D, huyện cẩm X, tỉnh Hà T (đồng thời là người giám hộ cho cháu Phan Văn V Nh), có mặt.

3. Anh Võ Thế A, Sinh ngày 20/10/1984, trú tại: tổ dân phố 9 thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 20 giờ 20 phút, ngày 23/10/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy số 2, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện và bắt quả tang Phan Văn D đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1994, trú tại xã Cẩm Th, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T tại nhà ở của Phan Văn D, thuộc thôn Trung T, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, thu giữ trên nền nhà trong phòng ngủ của D 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng, thu giữ trong túi quần của Nguyễn Tiến Đ 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng. Phan Văn D khai nhận đây là số ma túy đá, D mua để sử dụng và để bán cho người khác, trong đó đã bán cho Nguyễn Tiến Đ 01 gói. Nguyễn Tiến Đ khai nhận đã mua của Phan Văn D 01 gói ma túy đá, với giá 1.000.000 đồng (Một tiệu đồng) để về sử dụng. Khám xét khẩn cấp nhà ở của Phan Văn D, Cơ quan điều tra công an huyện Cẩm X phát hiện và thu giữ 01 gói nilon trong suốt hình chữ nhật, kích thước 1,5cmx2cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng để trên nóc tủ lạnh trong căn phòng phía sau phòng khách; 04 đoạn ống hút đều bằng nhựa, có nhiều màu sắc, đường kính 0,3cm, chiều dài ống ngắn nhất là 3,1cm, chiều dài ống dài nhất 3,5cm, bên trong mỗi ống đều chứa chất tinh thể màu trắng, thu giữ trong góc đối diện với tủ lạnh nói trên; 01 gói nilon trong suốt, kích thước 3,5cm x 6,5cm bên trong chứa thân, lá thực vật khô thu tại phía sau chân giường trong phòng ngủ cạnh phòng khách; 01 gói nilon trong suốt, kích thước 0,9cm x1,5cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, thu dưới đế con cóc gỗ đặt trên sàn nhà trong phòng khách.

Quá trình điều tra Phan Văn D khai nhận: Phan Văn D là đối tượng nghiện ma túy nên mua ma túy đá về để vừa sử dụng vừa bán kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 23/10/2018, Nguyễn Tiến Đ sử dụng điện thoại Samsung hiệu Galaxy Gran có số thuê bao 0399009990 gọi điện thoại cho Phan Văn D qua số thuê bao 0962780727 hỏi “có đồ không để cho em ít” (ý là hỏi mua ma túy) thì Phan Văn D trả lời “hết rồi, tối mới có”. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Tiến Đ tiếp tục sử dụng số điện thoại nói trên gọi điện thoại cho Phan Văn D hỏi “có đồ chưa” thì D trả lời “đang chờ đưa xuống”. Đến 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Tiến Đ cùng Nguyễn Trọng Ch, sinh năm 1991, trú tại xã Cẩm Ph, huyện Cẩm X đến nhà Phan Văn D để mua ma túy về sử dụng (trước khi đi Đ không nói cho Ch biết là đi mua ma túy). Khi đến nhà Phan Văn D thì Đạt hỏi “có đồ không để cho em một triệu” (ý hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá) thì D trả lời, “giờ không có sẵn, đưa tiền rồi D lấy cho”. Nguyễn Tiến Đ đưa cho Phan Văn D 1.000.000 đồng (một triệu đồng), rồi Đ và Ch đi vào trong phòng ngủ của D ngồi chờ. Khoảng 30 phút sau, một người đàn ông tên T đưa đến bán cho Phan Văn D 01 gói ma túy đá, D trả cho người đàn ông tên T 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng). Phan Văn D đưa gói ma túy đá vào phòng ngủ, rồi chia một ít vào một túi nilon khác và đưa bán cho Nguyễn Tiến Đ, số ma túy đá còn lại D để trên sàn nhà, gần vị trí D ngồi để sử dụng và bán nếu có người mua. Sau khi mua được ma túy, Đ bỏ gói ma túy vào túi quần của mình rồi tiếp tục ngồi chơi tại phòng ngủ của Dũng. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, trong lúc Phan Văn D, Nguyễn Tiến Đ và Nguyễn Trọng Ch đang ngồi chơi tại phòng ngủ của Phan Văn D thì bị Công an huyện Cẩm X và Cảnh sát biển phát hiện và bắt quả tang. Đối với số chất tinh thể màu trắng mà cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ khi tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Phan Văn D thì D không thừa nhận là của Dũng và D cũng không biết do đâu mà có, còn gói thực vật khô Dũng thừa nhận là của D.

Theo kết quả giám định số 115/GĐMT-PC09, ngày 25/10/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà T kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng thu của Phan Văn D là Methamphetamine; có khối lượng 1,6575 gam; chất tinh thể rắn màu trắng thu Nguyễn Tiến Đ là Methamphetamine, có khối lượng 0,0637 gam; Chất tinh thể rắn màu trắng thu trên nóc tủ lạnh trong căn phòng phía sau phòng khách là Methamphetamine, có khối lượng 1,9101 gam; chất tinh thể rắn màu trắng chứa trong 04 đoạn ống hút là Methamphetamine, có khối lượng 1,0552 gam; chất tinh thể rắn màu trắng thu dưới đế con cóc gỗ đặt trên sàn nhà trong phòng khách là Methamphetamine, có khối lượng 0,5592 gam. Tổng khối lượng chất Methamphetamine, thu giữ khi tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Phan Văn Dũng là 3,5245 gam.

Đối với gói thực vật khô, có khối lượng 3,8730 gam, thu giữ tại nhà Phan Văn D, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X đã tiến hành trưng cầu giám định tại Viện khoa học hình sự Bộ Công an. Theo kết luận giám định số 6292/C09-TT2, ngày 20/11/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận, không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu thực vật khô.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X đã thu giữ chưa xử lý, chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án huyện Cẩm X để xử lý theo quy định của pháp luật, cụ thể:

- Thu của Phan Văn D 01 (một) gói Methamphetamine, có khối lượng 1,6575 (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0464gam, còn lại 1,6111 gam); 27 đoạn ống hút bằng nhựa có nhiều màu sắc khác nhau, đường kính 0,3cm; 01(một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số seri 1 355135070276469, số seri 2 355135070276477, bên trong chứa số sim 0962780727; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có cấu tạo gồm 01 chiếc chai nhựa trong suốt, trên thân chai có đục lỗ luồn vào một ống thủy tinh, đầu gắn phễu hình cầu, đường kính 0,4cm, chiều dài 11cm, nắp chai màu đỏ có đục lỗ, luồn vào một ống hút bằng nhựa màu tím, đường kính 0,3cm, chiều dài 15cm.

- Thu của Nguyễn Tiến Đ: 01 (Một) gói Methamphetamine có khối lượng 0,0637 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0113gam, còn lại 0,0524 gam); 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung galaxy Grand Prime, màu trắng, số IMEI 1 355677063245266, số IMEI 2 355695063245268, bên trong chứa số sim 039009990.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở Phan Văn D, phát hiện và thu giữ: 01 (Một) gói Methamphetamine có khối lượng 1,9101gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0532 gam, còn lại 1,8569 gam); 04 (Bốn) đoạn ống hút là Methamphetamine có tổng khối lượng 1,0552 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0326 gam, còn lại 1,0226 gam); 01 (Một) gói Methamphetamine có khối lượng 0,5592 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0406 gam, còn lại 1,5186 gam); 01 (Một) gói thực vật khô, không tìm thấy các chất ma túy đã được niêm phong trong phong bì số 6292/C09TT2. Sau khi tiến hành giám định, toàn bộ chất Methamphetamnie được cho vào một phong bì thư dán kín niêm phong, với tổng khối lượng 5,0616 gam (sau khi đã trừ mẫu giám định).

- Thu giữ và trả lại các vật chứng: 01(Một) chiếc điện thoại di động hiệu Sony, màu hồng, số IMEI 1 358129074257820, số IMEI 2 358129074257838, bên trong chứa số sim 0378544379. Đã trả lại cho chủ sỡ hữu là Phan Văn Việt Nh (con trai Phan Văn D).

Với hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSCX ngày 25/01/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Phan Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X sau khi phân tích đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Phan Văn D từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật để xử lý vật chứng, tiền án phí HSST cũng như quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố về thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại tố cáo về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng , cũng như người tiến hành tố tụng của điều tra viên và kiểm sát viên trong quá trình thụ lý, điều tra vụ án. Hội đồng xét xử thấy hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn D: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo Phan Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp cáo trạng truy tố, lời khai của người liên quan, người làm chứng phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra, và cáo trạng truy tố. Từ đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào lúc 20 giờ 20 phút, ngày 23/10/2018, tại nhà Phan Văn D, ở thôn Trung T, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống ma túy số 2, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện và bắt quả tang Phan Văn D đang thực hiện hành vi bán cho Nguyễn Tiến Đ 01 gói Methaphetamine, thu giữ của Phan Văn D 01 gói Methamphetamine có khối lượng 1,6575 gam; thu giữ của Nguyễn Tiến Đ 01 gói Methaphetamine, có khối lượng 0,0637 gam. Tổng khối lượng Methamphetamine mà Phan Văn Dũng phải chịu trách nhiệm về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng và mua bán là 1,7212 gam (một phẩy bảy hai một hai gam), được D mua với giá 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng) của một đối tượng tên là A (L) ở Thị trấn Cẩm X về để sử dụng và bán kiếm lời, vì D là đối tượng nghiện ma túy. Trong vụ án này, chỉ một mình Phan Văn D thực hiện.

Hành vi phạm tội của Phan Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi phạm tội của Phan Văn D là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội.

Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: không có; về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phan Văn D thành khẩn khai báo; Có thời gian tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam; Có Bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; Mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và được hưởng chính sách như thương binh theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo ăn năn hối cải, sớm trở về với gia đình và xã hội. Nhưng dù có chiếu cố đến đâu cũng cần cách ly bị cáo một thời gian để răn đe giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

- Quá trình điều tra Phan Văn D khai nhận, nguồn gốc số ma túy mà D bán cho Nguyễn Tiến Đ là do D mua của A (L), ở Thị trấn Cẩm X. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X đã tiến hành xác minh làm rõ đó là Võ Thế A, sinh năm năm1984, trú tại tổ dân phố 9, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T. Quá trình điều tra đã tiến hành cho Phan Văn D đối chất với Võ Thế A, nhưng Võ Thế A không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Phan Văn D, nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Võ Thế A.

- Đối với người đàn ông tên T mang ma túy đến bán cho Phan Văn D, quá trình điều tra xác định đối tượng tên là Hoàng Văn T, sinh năm 1974, trú tại xã Cẩm H, Cẩm X, Hà T. Quá trình điều tra xác định T đã đi khỏi địa phương, không rõ địa chỉ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với khối lượng 3,5245 gam Methaphetamine, thu giữ khi tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Phan Văn D, quá trình điều tra Phan Văn D không thừa nhận số ma túy này là của D. Mặt khác, quá trình điều tra xác định, nhà ở của Phan Văn D xây dựng vào năm 2017, đến nay chưa hoàn thiện, cửa nhà thường xuyên không khóa, D lại là đối tượng nghiện ma túy đá; các đối tượng nghiện ma túy thường đến nhà D để sử dụng ma túy, D không quản lý được người ra, người vào. Do đó, chưa đủ căn cứ để xác định số ma túy nói trên là của Phan Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm X tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

Đối với Nguyễn Tiến Đ là người mua ma túy đá của Phan Văn D, và tàng trữ trong người (với khối lượng 0,0637 gam) để sử dụng, nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Cẩm X đã xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, theo Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC ngày 04/12/2018.

Đối với Nguyễn Trọng Ch là người đi cùng Nguyễn Tiến Đ để mua ma túy nhưng trước khi đi Đạt rủ Ch đi chơi nhà bạn và không cho biết đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) gói Methamphetamine, có khối lượng 1,6575 (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0464gam, còn lại 1,6111 gam); 27 đoạn ống hút bằng nhựa có nhiều màu sắc khác nhau, đường kính 0,3cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có cấu tạo gồm 01 chiếc chai nhựa trong suốt, trên thân chai có đục lỗ luồn vào một ống thủy tinh, đầu gắn phễu hình cầu, đường kính 0,4cm, chiều dài 11cm, nắp chai màu đỏ có đục lỗ, luồn vào một ống hút bằng nhựa màu tím, đường kính 0,3cm, chiều dài 15cm thu giữ của Phan Văn D; 01 (một) gói Methamphetamine có khối lượng 0,0637 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0113gam, còn lại 0,0524 gam) thu của Nguyễn Tiến Đ; 01 (một) gói Methamphetamine có khối lượng 1,9101gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0532 gam, còn lại 1,8569 gam); 04 (bốn) đoạn ống hút là Methamphetamine có tổng khối lượng 1,0552 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0326 gam, còn lại 1,0226 gam); 01 (một) gói Methamphetamine có khối lượng 0,5592 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0406 gam, còn lại 0,5186 gam); 01 (Một) gói thực vật khô, không tìm thấy các chất ma túy thu tại nhà của Phan Văn D, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Tịch thu tiêu hủy số sim 096270727 và số sim 039009990.

01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen, số seri 1 355135070276469, số seri 2 355135070276477, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung galaxy Grand Prime, màu trắng, số IMEI 1 355677063245266, số IMEI 2 355695063245268, cần tịch thu bán sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/10/2018 .

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2; điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói Methamphetamine, có khối lượng 1,6575; 27 đoạn ống hút nhựa; 01 (một) gói Methamphetamine có khối lượng 0,0637 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0113gam, còn lại 0,0524 gam); 01 (Một) gói Methamphetamine có khối lượng 1,9101gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0532 gam, còn lại 1,8569 gam); 04 (Bốn) đoạn ống hút bên trong chứa Methamphetamine có tổng khối lượng 1,0552 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0326 gam, còn lại 1,0226 gam); 01 (Một) gói Methamphetamine có khối lượng 0,5592 gam (đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 0,0406 gam, còn lại 0,5186 gam); Sau khi đã lấy mẫu giám định, còn lại 5,0616 gam Methamphetamine cho vào phong bì dán kín niêm phong; 01 (Một) gói thực vật khô, không tìm thấy các chất ma túy đã được niêm phong trong phong bì số 6292/C09TT2; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có cấu tạo gồm 01 chiếc chai nhựa trong suốt, 02 sim điện thoại có số 096270727, và số 039009990.

Tịch thu bán sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen, số seri 1 355135070276469, số seri 2 355135070276477, 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy Grand Prime, màu trắng, số IMEI 1 355677063245266, số IMEI 2 355695063245268.

Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao ngày 25/01/2019 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135 bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 3, khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2006. Buộc bị cáo Phan Văn D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị MT

Cỡ chữ