vanban.org

Bản án 09/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 22/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hữu T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN!CẨM!GIÀNG - TỈNH!HẢI!DƯƠNG
----------------
Bản án số: 09/2019/HSST
Ngày: 22-02-2019
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Đào.

Các Hội thẩm nhân dân: !

1. Ông Dương Văn Ngạn.

2. Bà Trần Thị Khanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Huyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2019/HSST ngày 31/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/HSST- QĐ ngày 11/02/2019 đối với bị cáo:

VŨ!HỮU!T, sinh năm 1991 tại Hải Dương. Nơi ĐKHKTT và cư trú: thôn BA, xã TV, huyện BG, tỉnh HD. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Hữu S và bà Vũ Thị P; Tiền án: Tại bản án số 17/2017/HSST ngày 27/01/2017, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/10/2018);Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/12/2016, Công an huyện Bình Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPVPHC về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/01/2019.

Tạm giam: 14/01/2019 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.

Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Liên – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương.

1

Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20h25 phút ngày 11/01/2019, tại khu vực trước cửa đình thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng bắt quả tang Vũ Hữu T có hành vi cất giấu trái phép trong lòng bàn tay trái 01 túi nilon màu trắng, bên trong gói giấy bạc màu trắng, kích thước 01 x 1,5 cm, chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. T khai là ma túy loại hêrôin cất giấu mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy loại hêrôin nên tối ngày 11/01/2019, T đi bộ từ nhà ra khu vực Phủ, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương thì gặp Đ (là bạn quen biết nhưng không biết rõ địa chỉ). Đ rủ đi mua ma túy về sử dụng cùng, T đồng ý. Trước khi đi, T đưa cho Đ 30.000đ rồi điều khiển xe mô tô, loại xe Cup 50 là xe của Đ (không rõ BKS) chở Đức đến khu vực thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thì dừng xe lại để Đức đi bộ vào trong thôn mua ma túy, còn T đứng ngoài chờ. Khoảng 05 phút sau Đức đi ra rồi cả hai đến khu vực trước Đình thôn Quý Dương. Tại đây, Đ đưa cho T 01 gói ma túy loại hêrôin và bảo đứng chờ, còn Đức điều khiển xe mô tô đi giải quyết công việc riêng. Đến 20h 25 phút cùng ngày, khi T đang đứng trước cửa Đình thôn Quý Dương thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Kết luận giám định số 79/KLGĐ – PC09 ngày 15/01/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng ghi thu của Vũ Hữu T gửi đến giám định có khối lượng là 0,096 gam, là ma túy loại Hêrôin. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 31/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Vũ Hữu T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (được viết tắt là BLHS).

2

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố, trình bầy luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (được viết tắt là HĐXX):

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Hữu T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Vũ Hữu T từ 12 - 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/01/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Không phải giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Tuyên xác định: Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo T là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét, đánh giá điều kiện, hoàn cảnh, mức độ hành vi phạm tội, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS và bản thân có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

Bị cáo nói lời sau cùng: Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo không có ý kiến gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo rất ân hận về hành vi mà mình đã thực hiện.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết

3

luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vũ Hữu T có tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Vào hồi 20 giờ 25 phút ngày 11/01/2019, tại khu vực trước cửa Đình thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Vũ Hữu T có hành vi cất giấu trái phép 0,096 gam ma túy, loại hêrôin trong tay trái với mục đích sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Xét thấy hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy nói chung và hêrôin nói riêng là chất gây nghiện có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Mặc dù khối lượng ma túy bị cáo cất giấu trái phép trong người dưới 0,1 gam để sử dụng nhưng bị cáo đã có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3].!Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và hướng xử lý đối với bị cáo:

Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tặng TNHS vì tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo được xác định là dấu hiệu định tội nên không được coi là tình tiết tăng nặng TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Đó là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế bản thân không có, bị cáo thuộc đối tượng hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương thu giữ của bị cáo 0,096 gam hêrôin, không hoàn lại mẫu vật nên HĐXX không phải giải quyết về vật chứng.

[6]. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4

[7]. Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên Đ, theo T khai đi mua ma túy cùng nhưng quá trình điều tra không xác định được địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH!

[1]. Căn cứ: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hữu T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Hữu T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/01/2019.

[2]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi!nhận:! !

T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

- VKSND huyện Cẩm Giàng;

Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa!

- VKSND tỉnh Hải Dương;

- Công an huyện Cẩm Giàng ;

- Những người tham gia tố tụng;

- Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương.

Phạm!Thị!Đào!

- Sở tư pháp tỉnh Hải Dương.

- Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng.

- Lưu hồ sơ.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các!Hội!thẩm!nhân!dân!

Thẩm!phán!–!chủ!tọa!phiên!tòa

5

Phạm!Thị!Đào!

Nghị án kết thúc vào hồi……giờ……phút ngày .... tháng ..... năm 2019.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

6

THÀNH!VIÊN!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Phạm!Thị!Đào!

7

!

BÁO!CÁO!ĐỀ!XUẤT!VỤ!PHẠM!MINH!TUẤN!

Xét xử ngày 28 tháng 8 năm 2017

Thẩm phán: Phạm Thị Đào.

Bị cáo Phạm Minh Tuấn có: Nhân thân: Tốt, chưa tiền án, tiền sự.

Tại Kết luận giám định số 230/KLGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2017, Viện khoa học hình sự Tổng cục cảnh sát kết luận:Tinh thể màu trắng thu giữ của Thành có trọng lượng 0,479 gam, có Katemine: Tinh thể màu trắng thu giữ của Tuấn có trọng lượng 0,913 gam, có Ketamine và 06 viên nén màu hồng có tổng trọng lượng 1,840gam đều có MDMA.(Tổng là 3,232 gam các chất ma túy ở thể rắn)

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh Tuấn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Tuấn từ 30 - 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2017

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS:

+. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì thư số 230/KLGĐ -PC54 có dấu niêm phong của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an (Bên trong chứa 2,801 gam chất ma túy ở thể rắn (gồm 1,263 gam Ketamine và 1,583 gam MDMA) hoàn lại sau giám định).

+. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày .......)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

8

!

9

10

Cỡ chữ