- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A Th - phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng A Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2019/HS – ST Ngày 14 - 10 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: 1. bà Lò Thị Dậu
2. ông Lò Văn Vớn
- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 10 năm 2019 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2019/TLST – HS ngày 20/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Vàng A Th (tên gọi khác: không) – SN: 1977 tại huyện C, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: thôn P, xã N, huyện C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng, nương; trình độ văn hóa: không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông Vàng Vảng C (đã chết) và bà Giàng Thị D (đã chết); có vợ Giàng Thị Ch – SN: 1978 và 06 con, con lớn nhất – SN: 2002, con nhỏ nhất – SN 2018; tiền án: không, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 19/5/2019 đến ngày 22/5/2019; tạm giam từ ngày 22/5/2019 đến nay. Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Vàng Thị P – SN: 2002. Người đại diện hợp pháp là bà Giàng Thị Ch – SN: 1978; Cùng trú tại: thôn Pàng Nhang, xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên/có mặt
- Người phiên dịch: ông Giàng A D – SN 1985; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên/có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 00 giờ 05 phút ngày 19/5/2019 tổ công tác cảnh sát điều tra Công an huyện Tủa Chùa phát hiện, bắt quả tang bị cáo Vàng A Th đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của bị cáo tại thôn P, xã N, huyện C. Vật chứng thu giữ gồm: 71 viên nén màu hồng, mặt của mỗi viên có chữ WY đựng trong túi nilon màu xanh; số tiền 535.000đ (ma túy và tiền thu tại túi áo ngực bên trái đang mặc của bị cáo); Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo thu giữ được: 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng miếng giấy nilon màu đen, mở gói màu đen thứ nhất thấy có 02 cục chất bột màu trắng thể rắn; mở gói màu đen thứ hai thấy có 02 cục chất bột màu trắng thể rắn và 01 viên nén màu hồng một mặt có chữ WY; 02 miếng giấy bạc; 01 bơm kim tiêm; 01 cân tiểu ly và số tiền 3.860.000đ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng giữa tháng 5/2019 bị cáo đang ở nhà tại thôn P, xã N, huyện C thì có 01 người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi (bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến nhà hỏi bị cáo có mua ma túy không, bị cáo trả lời “ có”. Người đàn ông đã dẫn bị cáo đến đoạn đường vắng người qua lại thuộc thôn S, xã N đưa ma túy cho bị cáo sử dụng thử, khi sử dụng xong biết đó là ma túy nên bị cáo đồng ý mua. Bị cáo đã mua 02 gói Heroine với giá 300.000đ; 100 viên nén màu hồng với giá 1.500.000đ. Sau khi mua được số ma túy bị cáo cất giấu trong túi áo ngực bên trái đang mặc mang về nhà nhằm mục đích để sử dụng dần và bị cáo đã sử dụng hết 28 viên nén màu hồng bằng hình thức hít. Đến 00 giờ 05 phút ngày 19/5/2019 bị tổ công tác Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang cất giấu trái phép chất ma túy tại nhà ở, tiến hành thu giữ vật chứng và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với bị cáo.
Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo: 01 bơm kim tiêm, 01 cân tiểu ly, số tiền 535.000đ (bị cáo ủy quyền cho vợ là Giàng Thị Ch nhận); trả lại cho Vàng Thị P số tiền 3.860.000đ.
Kết luận giám định số: 528/GĐ – PC09 ngày 29/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 02 Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M2, M3 gửi giám định là chất ma túy: Loại heroine – có khối lượng 1,0325 gam; 02 mẫu viên nén màu hồng ký hiệu M1, M4 gửi giám định là chất ma túy: Loại methamphetamine - có khối lượng 7,718 gam; Heroine và Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy theo Nghị định 73/2018/NĐ – CP của Chính phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Cáo trạng số:10/CT – VKSHTC ngày 20/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Vàng A Th về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 của BLTTHS, đề nghị chấp nhận quyết định của cơ quan điều tra về việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp; tịch thu và tiêu hủy 0,8148 gam Heroine và 7,4971gam Methamphetamine còn lại; 02 miếng giấy bạc, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và giữ nguyên lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.
Có đủ cơ sở để kết luận vào tháng 5/2019 bị cáo đã một mình mua 02 gói Heroine trị giá 300.000đ; 100 viên Methamphetamine trị giá 1.500.000đ của một người đàn ông dân tộc Mông tại khu vực thôn S, xã N, huyện C, mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng dần cho bản thân, bị cáo đã sử dụng hết 28 viên Methamphetamine cho bản thân. Sau khi mua được bị cáo mang về nhà cất giấu. Đến 00 giờ 05 phút ngày 19/5/2019 tại nhà ở thôn P, bị cáo đã bị tổ công tác cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 1,0325 gam Heroine và 7,718 gam methamphetamine, tổng cộng khối lượng 02 chất ma túy bị cáo đã mua và cất giấu là 8,7505gam chất ma túy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người đúng tội. [2] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. [3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập thường xuyên, gia đình thuộc hộ nghèo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [4] Về các vấn đề khác có liên quan:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo mua ma túy cất giấu trong nhà chỉ một mình bị cáo biết.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên HĐXX không có cơ sở xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án:
- Đối với các vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội, cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS, HĐXX chấp nhận.
- Đối với số Heroine và Methamphetamine còn lại là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 miếng giấy bạc đã qua sử dụng dùng để sử dụng ma túy là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. [6] Về án phí: Do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, điều kiện kinh tế không có, bản thân nghiện ma túy nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng A Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Vàng A Th 06(sáu) năm 10(mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2019 2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
Tịch thu và tiêu hủy: 0,8148gam Heroine và 7,4971gam Methamphetamine còn lại; 02 miếng giấy bạc.
Số vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện C. 3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quán lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 4. Kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/10/2019)
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAT; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tủa Chùa; - CQĐT, bộ phận HSNV CA huyện; - CQTHAHS CAH Tủa Chùa; - THADS huyện Tủa Chùa; - Cơ quan THAHS CA tỉnh; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu: HSVA; HSTHA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Tòng Thị Lan |